Bảo tồn và phát huy nét đẹp văn hóa truyền thống qua lễ tục Ew Muk kei, lễ hội Kate – Ramawan và lễ hội Rija Nagar

Thành Phần(*)

khach-san-corvin-vung-tau-22607

Người Chăm[1] là một trong 54 dân tộc ở Việt Nam, có dân số khoảng 161.729 người[2]. Đây là cư dân bản địa thuộc loại hình nhân chủng Indonesien[3]. Tiếng nói của họ gần gũi với tiếng các dân tộc Raglai, Churu, Jarai và Ê-đê, thuộc nhóm ngôn ngữ Mã lai – Đa đảo (Malayo – Polynesian), hệ ngôn ngữ Nam Đảo – Austranesian[4] (Collins J., 1991: 108 – 121).

Do trải qua nhiều biến cố trong lịch sử, đã làm cho địa bàn cư trú của tộc người Chăm bị xáo trộn, phân bố phân tán cách biệt nhau về điều kiện địa lý và môi trường xã hội, chia tách thành nhiều nhóm cộng đồng tộc người mang tính đặc thù cho từng khu vực địa phương khác nhau, không còn đồng nhất như trước đây. Đặc biệt là tín ngưỡng tôn giáo, hầu như có khuynh hướng biến đổi theo xu thế địa phương hóa. Điều này đã dẫn đến sự phân hóa thành ba vùng địa phương khác nhau: vùng Trung Trung Bộ (cộng đồng địa phương người Chăm Hroi[5] ở Phú Yên và Bình Định)[6]; vùng Nam Trung Bộ (cộng đồng địa phương người Chăm Klak[7] ở Ninh Thuận và Bình Thuận); vùng Tây Nam Bộ (cộng đồng địa phương người Chăm Biruw ở An Giang, Tây Ninh và Tp. Hồ Chí Minh) [Thành Phần, 2012:89].

Khi nói đến người Chăm ở vùng Nam Trung Bộ, các nhà nghiên cứu trước đây thường phân chia tách biệt thành hai nhóm cộng đồng: Cộng đồng người Chăm Bàlamôn và cộng đồng người Chăm Bàni [Nguyễn Hồng Dương, 2007:9; Vũ Khánh, 2009:118; Lương Ninh, 2006:203-241] hoặc người Chăm Bàni và Cham Jat [Lý Tùng Hiếu – Đổng Lấn, 2005:163]. Nhưng đối với quan niệm của người Chăm, không phân chia cộng đồng người Chăm Bàlamôn và cộng đồng người Chăm Bàni thành hai cộng đồng tách biệt nhau mà ngược lại hợp nhất thành một cộng đồng không tách rời nhau. Đây là một loại hình tổ chức xã hội “nhị phân – lưỡng hợp” [Thành Phần, 2011:219]. Do đó, người Chăm thường sử dụng thuật ngữ Awal để chỉ nhóm cộng đồng người Chăm Bàni và thuật ngữ Ahiér để chỉ nhóm cộng đồng người Chăm Bàlamôn. Awal có nghĩa là trước (đầu tiên), biểu tượng cho người vợ/mẹ (thuộc âm tính Kumei). Ahiér có nghĩa là sau (cuối cùng) biểu tượng cho người chồng/cha (thuộc dương tính Likei). Theo quan niệm của người Chăm, mặc dù Awal Ahiér là hai mặt đối lập nhưng luôn luôn gắn bó chặt chẽ với nhau như một cặp vợ chồng, như giống đực và giống cái, như cha và mẹ, không thể tách rời nhau [Thành Phần, 2011:217-218]. Vì vậy, trên thực tế, hai cộng đồng này luôn gắn bó với nhau như một đôi nam nữ Likei – Kumei hay một cặp vợ chồng Hadiip – Pasang không tách rời nhau. Cộng đồng người Chăm Awal (Chăm Bàni) biểu tượng cho giới tính nữ (cái/kumei, vợ/hadiip); Cộng đồng người Chăm Ahiér (Chăm Bàlamôn) biểu tượng cho giới tính nam (đực/likei, chồng/pasang). Đây được xem như là bản sắc văn hoá truyền thống của người Chăm ngày nay, một dân tộc bản địa sinh sống lâu đời ở vùng Nam Trung Bộ, có một nền văn hóa đặc sắc, phong phú và đa dạng.

Cho đến nay, người Chăm luôn luôn xem mối quan hệ biện chứng Awal -Ahiér là nền tảng quan trọng đối với nền văn hóa Chăm và xem đây là cơ sở gắn kết hai nhóm cộng đồng tuy chịu ảnh hưởng của hai tôn giáo khác nhau, thậm chí đối nghịch nhau như Hồi giáo và Bàlamôn giáo.

Căn cứ vào quan niệm trên, người Chăm đã vận dụng mối quan hệ biện chứng Awal – Ahiér như một cặp phạm trù mang tính triết lý để thực hiện các nghi thức, nghi lễ, lễ tục trong tín ngưỡng, tôn giáo của hai cộng đồng người Chăm Awal Ahiér. Đồng thời, cũng căn cứ trên quan niệm này, họ ứng dụng để lý giải những hiện tượng liên quan đến vũ trụ quan và nhân sinh quan của mình.

Mặc dù, bị tác động bởi quan niệm và lối sống hiện đại, nhưng cho đến nay đa phần các lễ tục, lễ nghi, lễ hội vẫn còn được người Chăm bảo tồn và tổ chức thường xuyên hàng năm như: Katé, Cambur, Ramâwan, Suk yeng, Rija, Buk gila, Paralao pasah v.v… Trong đó, Éw muk kei, Katé Ramâwan không chỉ thuần túy là lễ tục, đồng thời là lễ hội lớn nhất trong năm ở vùng người Chăm Nam Trung Bộ.

Éw muk kei là lễ tục cúng giỗ ông bà tổ tiên đã khuất. Đây là ngày lễ trọng đại trong năm đối với mọi gia đình người Chăm ở vùng Nam Trung Bộ. Đối với cộng đồng người Chăm Ahiér, thời gian thực hiện Éw muk kei sau thời điểm mở cửa Bimong kalan (đền tháp) tổ chức nghi lễ Katé. Ngược lại, đối với cộng đồng người Chăm Awal, thời gian thực hiện Éw muk kei trước thời điểm mở cửa Sang mâgik (thánh đường, còn gọi là chùa Bàni) hành lễ vào tháng Ramâwan[8]. Vào dịp này, những người thân xa nhà đều trở về đoàn tụ gia đình. Chính điều này, đã tạo nên không khí rộn ràng như ngày tết, góp phần cho lễ hội KatéRamâwan thêm đa dạng sắc màu.

Cũng vì lẽ đó, khi đến ngày lễ Katé hay Ramâwan, người Chăm thường xem đây là dịp để chúc mừng sức khỏe dồi dào, cầu mong làm ăn phát đạt, cầu nguyện an khang thịnh vượng không chỉ cho bản thân, mà còn cầu nguyện cho gia đình, dòng tộc và xóm làng. Đôi khi, nhiều người xem ngày Éw muk kei của người Chăm Bàni và ngày hội Ramâwan là ngày tết của cộng đồng người Chăm Awal cũng như ngày hội Katé và ngày Éw muk kei người Chăm Bàlamôn là ngày tết của cộng đồng người Chăm Ahiér. Thậm chí, họ còn xem lễ cúng giỗ gia tiên Éw muk kei trước RamâwanÉw muk kei sau Katé như là ngày ngày đầu năm để chúc mừng năm mới. Mặc dù, thời điểm trên thực tế tiến hành các lễ nghi và các lễ hội này không nhằm vào những ngày đầu năm của lịch Sakawi Ahiér (Chăm lịch) cũng như Sakawi Awal (Hồi lịch).

Sakawi Awal là loại hệ lịch tính theo chu kỳ mặt trăng hay còn gọi là lịch thuần âm sử dụng trong việc thực hiện các lễ nghi liên quan đến việc mở cửa Sang magik hành lễ cầu nguyện Po Awluah. Khác với lịch Islam, họ không sử dụng số đếm mà sử dụng Ikessarak đặt tên gọi của năm, nên thường gọi là thun Ikessarak (tên gọi mẫu tự Ả rập).

Thun Ikessarak gồm: (1) Lieh, (2) Hak, (3) Jim, (4) Jây, (5) Dal, (6) Bak, (7) Wao, (8) Jim luic. Cách tính lịch Sakawi Awal theo chu kỳ 8 năm, gồm 5 năm thường và 3 năm nhuần[9]. Tổng số ngày trong một năm thường là 354 ngày gọi là thun wak. Để không bị chênh lệch ngày so với chu kỳ mặt trăng, mỗi năm nhuần cộng thêm 1 ngày. Vì vậy, tổng số ngày trong một năm nhuần là 355 ngày gọi là thun nâh (thun nâh = 354 ngày của thun wak + 1 ngày nhuần = 355 ngày). Các năm nhuần thun nâh thường rơi vào năm Hak, năm Dal và năm Jim luic.

Một năm của thun Ikessarak gồm 12 tháng theo chu kỳ của mặt trăng; 6 tháng 29 ngày, 6 tháng 30 ngày: (1) Amhram [30 ngày], (2) Sakphuer [29 ngày], (3) Rabi-ur awal [30 ngày], (4) Rabi-ur ahiér [29 ngày], (5) Jamadin awal [30 ngày], (6) Jamadin ahiér [29 ngày], (7) Rajap [30 ngày], (8) Sakban [29 ngày], (9) Ramâwan [30 ngày], (10) Sawal [29 ngày], (11) Dulka-idah [30 ngày], (12) Dulkahaji [29 ngày].

Sakawi Ahiér là loại lịch tính năm theo hệ mặt trời (chu kỳ vòng quay của trái đất chung quanh mặt trời), nhưng tháng lại tính theo chu kỳ mặt trăng. Nên thường gọi là lịch âm dương. Để tính lịch Sakawi Ahiér, người Chăm áp dụng công thức tính lịch của Sakawi Awal cộng thêm 30 ngày vào các năm nhuần thun nâh để không bị chênh lệch với chu kỳ vòng quay của trái đất chung quanh mặt trời. Cũng giống như Sakawi Awal, chu kỳ tính năm nhuần là 8 năm, gồm 5 năm thường (thun wak) và 3 năm nhuần (thun nâh). Mỗi thun nâh cộng thêm 30 ngày nên tổng số tháng của năm nhuần là 13 tháng. Còn lại năm thường thun wak vẫn giữ nguyên 12 tháng.

Tuy sử dụng lịch Sakawi Awal Ikessarak để tính lịch Sakawi Ahiér, nhưng họ lại dùng 12 tên con vật (12 nâsak) để đặt tên gọi của năm, gọi là thun Nâsak và dùng số đếm tiếng Chăm để đặt tên tháng gồm: (1) Bulan Sa [30 ngày], (2) Bulan Dua [29 ngày], (3) Bulan Klau [30 ngày], (4) Bulan Pak [29 ngày], (5) Bulan Limâ [30 ngày], (6) Bulan Nem [29 ngày], (7) Bulan Tijuh [30 ngày], (8) Bulan Dalipan [29 ngày], (9) Bulan Salipan [30 ngày], (10) Bulan Sapluh [29 ngày], (11) Bulan Puis [30 ngày], (12) Bulan Mak [29 ngày][10]. Trong trường hợp năm nhuần, thêm một tháng 13 gọi là Bulan Bhang[11] [29 ngày] vào cuối năm (người Raglai gọi Balan War).

Cho đến nay, người Chăm không sử dụng ngày tháng trong lịch Sakawi Ahiér một cách độc lập tách biệt với ngày tháng trong lịch Sakawi Awal, ngược lại họ luôn luôn phối hợp một cách chặt chẽ giữa hai lịch với nhau[12]. Vì vậy, Sakawi Ahiér không những chỉ dùng để xem ngày tháng mở cửa các đền tháp, thực hiện các nghi lễ Rija, Buk gila, Paralao pasah, Katé, Cambur v..v… mà còn sử dụng để chọn ngày tháng làm lễ cưới, lễ tang, lễ cúng trong gia đình, lễ dựng nhà, lễ vào nhà mới cho cả người Chăm Awal và người Chăm Ahiér.

Vào tháng Sakban, các giới chức sắc Awal hạn chế không đi xa làng. Những người Chăm Awal xa nhà chuẩn bị trở về quê nhà đoàn tụ gia đình để tổ chức đi tảo mộ đón rước ông bà tổ tiên về gia đình để cúng giỗ tổ tiên Éw muk kei.

Để chuẩn bị cho việc đón mừng ông bà, tổ tiên, cộng đồng đồng người Chăm Awal sửa sang nhà cửa, mua sắm áo mới, chuẩn bị bếp lửa chưng nấu các loại bánh truyền thống như tapei nung (bánh tét), tapei galik (bánh ít), sakaya (bánh sakaya), giraong laya (bánh ginraong laya) để cúng ông bà, tổ tiên.

Khi đến những ngày cuối tháng Sakban, khoảng từ ngày 25 đến ngày 27 tháng Sakban (tháng 8 Sakawi Awal)[13], cộng đồng người Chăm Awal tổ chức lễ tảo mộ để đón rước ông bà tổ tiên (raok muk kei) về cúng giỗ tại gia đình. Lễ tảo mộ thường diễn ra từ hai đến ba ngày[14]. Những ngày này, cả dân làng nô nức đi tảo mộ với những bộ quần áo mới đủ màu sắc của một ngày hội lớn.

Sau những ngày lễ tảo mộ, từ ngày 27 đến ngày 29 tháng Sakban[15], mỗi gia đình đều tổ chức lễ Éw muk kei hay còn gọi mbeng muk kei (lễ cúng gia tiên) tại nhà. Sau khi lễ cúng gia tiên kéo dài khoảng hai đến ba ngày thì được kết thúc bằng lễ nghi ricaow vào khoảng 18 giờ 00 chiều ngày 29 tháng Sakban (tháng thiếu 29 ngày – cuối tháng).

Nghi lễ ricaow là lễ tẩy trần để cho thể xác và tâm hồn được trong sạch trước khi vào sang magik (thánh đường) để cầu nguyện Po Awluah (thượng đế). Riêng đối với các giới tu sĩ, trước khi vào tháng Ramâwan, tất cả các tu sĩ Imâm, Katip, Madin, Car phải thực hiện nghi lễ Athaw bah[16]  thì mới được phép vào sang magik. Đối với vùng Bình Thuận đơn giản hơn, các tu sĩ Imâm, Katip, Madin, Car chỉ cần mang lễ vật đến nhà Po Gru làm lễ Kahét[17] thì có thể thay thế nghi lễ Athaw bah như vùng Ninh Thuận.

Trong suốt một tháng chay niệm Ramâwan, các vị tu sĩ acar tập trung tại sang magik để thực hiện các lễ cầu nguyện Po Awluah, một ngày 5 lần. Trong thời gian 30 ngày hành lễ, đặc biệt vào các ngày lễ lớn trong tháng Ramâwan như: Muk trun, Ong Trun, Tuh brah, Talaih, không chỉ riêng người Chăm Awal mà còn có cả người Chăm Ahiér cũng đến sang magik để cầu nguyện Po Awluah phù hộ, ban điều phước lành, cầu mong bình an, sức khỏe dồi dào, mùa màng tươi tốt cho gia đình và dân làng. Từ ngày 1 gaok đến ngày 15 gaok của tháng Ramâwan[18] (mâng sa gaok nao tel sa pluh limâ gaok) tất cả cộng đồng người Chăm Awal kể cả cộng đồng người Chăm Ahiér cũng đều kiêng cữ đồng loạt như nhau. Trong những ngày kiêng cữ tất cả các làng người Chăm (không phân biệt làng Ahiér hay Awal) ở vùng Nam Trung Bộ không sát sinh, không nói lớn tiếng, không cải vã nhau, chú tâm vào việc tu thân tích đức. Nhất là các giới chức sắc Awal (Gru, Imâm, Katip, Car) Ahiér (Adhia, Puah, Saih) hầu như kiêng cử một cách tuyệt đối vào những ngày trên. Chính vì lẽ này, khi tính lịch Sakawi Ahiér, người Chăm luôn tuân thủ công thức “Rap nam, Cam pak”[19] nhằm mục đích để tính Sakawi Ahiér luôn lệch ngày với Sakawi Awal tránh ngày thực hiện nghi lễ Katé rơi vào tháng Ramâwan.

Cũng giống như Ramâwan, khi gần đến ngày hội Katé, cộng đồng người Chăm Ahiér cũng chuẩn bị sửa sang nhà cửa, mua sắm áo mới, chuẩn bị bánh trái; đặc biệt đổ bánh sakaya, bánh binraong laya, nấu bánh tapei nung, bánh tapei galik không thể thiếu trong nghi lễ này. Nhưng khác với phía Awal, người Chăm Ahiér không tổ chức lễ Éw muk kei (lễ cúng gia tiên) trước ngày lễ Katé.

Nghi lễ Katé tổ chức trên các bimong bimong kalan[20] như bimong kalan Po Klaong Girai, bimong kalan Po Romé, bimong kalan Po Sah Inâ, bimong Po Inâ Nâgar Hamu Tanran, bimong Po Inâ Nâgar Taha, bimong Po Nit vào ngày 1 tháng 7 Sakawi Ahiér (sa bingun bulan tijuh). Riêng Bimong Po Dam palei Pajai (Ma Lâm) tỉnh Bình Thuận, tổ chức lễ Katé vào ngày 16 tháng 7 Sakawi Ahiér (sa klam bulan tijuh). Vào ngày này, với những trang phục đủ màu sắc của một ngày hội, toàn thể người Chăm, không chỉ người Chăm Ahiér mà còn có cả người Chăm Awal cũng chuẩn bị các vật lễ mang lên các đền tháp dâng cúng Po Yang (các vị thần linh và vua chúa), cầu mong sức khỏe dồi dào, gia đình bình an, làm ăn phát đạt.

Sau ngày lễ Katé trên các đền tháp, trong các palei Ahiér, nơi cư trú của người Chăm Bàlamôn, mới tổ chức lễ Éw muk kei (hay còn gọi là MbengKaté) tại thôn làng và gia đình. Lễ Éw muk kei không tổ chức đồng thời cùng một lúc trong một ngày mà phân bổ thứ tự ưu tiên trước sau theo địa vị chức sắc tôn giáo, thôn làng và thường dân. Ngày đầu tiên, tổ chức lễ Éw muk kei dành riêng các vị chức sắc tôn giáo như Po Adhia, Pasaih để dâng cúng các bậc tiền bối gru saih và tổ tiên muk kei. Sau đó, các vị lãnh đạo thôn làng palei tổ chức lễ cúng các vị thần làng có công khai hoang lập làng. Những ngày còn lại, dành cho dân chúng chọn ngày thích hợp tổ chức Éw muk kei cúng giỗ gia tiên tại gia đình.

Trong các nghi lễ quan trọng của người Chăm nói chung, nghi lễ cúng giỗ gia tiên Éw muk kei của cộng đồng người Chăm Ahiér nói riêng, không thể thiếu món ẩm thực truyền thống tapei nung, sakaya, ginraong laya.

Tapei nung có hai loại: tapei nung ndontapei nung binah. Tapei nung ndon là một loại bánh tét hình trụ tròn (hình linga). Tapei nung binah là một loại bánh tét hình chữ nhật (hình yoni)[21]. Cả hai loại tuy có hình dáng khác nhau nhưng cùng chung một chất liệu làm bằng gạo nếp, có trộn một ít đậu phụng hoặc đậu đen. Riêng bánh tét hình trụ, đôi khi có nhân làm bằng dừa hoặc đậu phụng, mè, được giã nhỏ. Bánh được gói bằng 3 lớp lá chuối rồi nấu khoảng 3-4 tiếng đồng hồ thì chín. Bánh tét là một trong những lễ vật quan trọng, không thể thiếu được trong mâm lễ cúng của người Chăm.

Sakaya là loại bánh làm từ trứng gà, đậu phụng, mè, đường và gừng. Trước hết, đánh tan hỗn hợp đường và trứng với nhau, sau đó cho đậu phụng rang giã nhỏ và một ít gừng trộn đều với hỗn hợp đường và trứng, rồi đổ vào chén sứ, chưng cách thủy, khoảng 15 phút sau bánh phồng lên thành bánh sakaya. Đây là bánh quý nhất không thể thiếu trong mâm cúng của người Chăm như lễ cưới, lễ cúng tổ tiên trong ngày KatéRamâwan. Vì vậy, người Chăm có thành ngữ: tapei nung ala, sakaya angaok (bánh tét ở dưới, bánh sakaya ở trên). Vì là quý, nên ngày xưa bánh sakaya chỉ dùng để thết đãi người già, các vị chức sắc và vị khách quý.

Bánh ginraong laya là một loại bánh có hình dáng như “càng cua” hoặc “củ gừng” được làm từ bột gạo nếp và trứng gà. Bột gạo nếp trộn đều với trứng gà, rồi nặn thành hình càng cua hay củ gừng. Sau đó, bỏ vào dầu chiên cho đến khi bánh chín vàng đều, vớt ra để nguội. Cuối cùng, phủ một lớp đường trên mặt bánh. Đây là loại bánh được người Chăm ưa chuộng dùng để cúng lễ và thết đãi khách trong dịp lễ, hội.

Nếu thử so sánh Ramâwan Katé, chúng ta sẽ thấy có nhiều điểm tương đồng về không khí rộn ràng và nô nức của lễ hội giống như không khí ngày tết Nguyên đán của người Việt. Nhân dịp này, người thân trở về đoàn tụ cùng với gia đình, bạn bè lâu ngày thăm hỏi nhau; trẻ con được dịp được mặc áo mới. Đồng thời cũng là dịp để cúng giỗ ông bà tổ tiên, cầu nguyện cho sự an lành của dân làng và mong cho hạnh phúc đến với mọi gia đình. Mặc dầu vậy, khi xét về mặt thời gian, lễ hội Katé và lễ hội Ramâwan không diễn ra vào những ngày đầu năm và không cùng thời khắc với nhau.

Lễ hội Ramâwan tổ chức vào tháng 9 (Bulan Ramâwan) theo lịch Sakawi Awal. Đây là một loại âm lịch thuần túy mà các nước Hồi giáo đang sử dụng để tính ngày hành lễ và đi hành hương. Một năm của lịch Sakawi Awal bằng 354 ngày. Trong 8 năm có 3 năm nhuần. Mỗi năm nhuần chỉ cộng thêm 1 ngày để theo đúng với chu kỳ mặt trăng. Vì vậy, tháng 9 lịch Sakawi Awal luôn bị lệch với Dương lịch, không phản ánh đúng với thời tiết. Mỗi năm chênh lệch với Dương lịch khoảng 11 ngày (xem Bảng 1, Bảng 2 & Bảng 3).

Lễ hội Katé tổ chức vào tháng 7 (bulan Tijuh) theo lịch Sakawi Ahiér, thường rơi vào khoảng tháng 10 dương lịch. Lịch Sakawi Ahiér hay còn gọi Chăm lịch là một loại lịch tính theo hệ âm dương lịch. Một năm lịch Sakawi Ahiér bằng 354 ngày. Trong chu kỳ 8 năm có 3 năm nhuần. Mỗi năm nhuần cộng thêm 30 ngày (tháng nhuần) để không bị lệch với Dương lịch[22]. Do đó, lịch Sakawi Ahiér thường trùng khớp với Dương lịch, phản ánh đúng với thời tiết hơn so với lịch Sakawi Awal (xem Bảng 1, Bảng 4 & Bảng 5).

Nếu như vậy, chúng ta có thể đặt câu hỏi: Người Chăm có tổ chức lễ đón mừng năm mới hay không? Câu trả lời sẽ là có. Đó là lễ hội Rija Nâgar, một lễ hội được tổ chức vào đầu năm mới theo lịch Sakawi Ahiér, nhằm vào khoảng tháng 4 dương lịch. Vì vậy, lễ hội Rija Nâgar của người Chăm thường diễn ra cùng thời điểm với lễ đón mừng năm mới của một số dân tộc ở Đông Nam Á như Bun hot nam của Lào, Chol chnam thamay của Khmer, Songkran của Thái, Thinyan của Mianma… Mục đích của lễ hội này là nhằm tiễn đưa năm cũ đón mừng năm mới.

Khác với Ramâwan Katé, lễ hội Rija Nâgar là lễ hội lớn mang tính toàn vùng, diễn ra trên tất cả các làng palei người Chăm, không phân biệt palei của người Chăm Ahiér hay palei của người Chăm Awal, đều tổ chức cùng một thời điểm vào dịp đầu năm mới theo lịch Sakawi Ahiér. Mỗi năm, khi có những tiếng sấm đầu tiên rền vang khắp vùng là vào đầu tháng giêng của Chăm lịch (lịch Sakawi Ahiér) báo hiệu cho một trận mưa đầu mùa. Điều này, đồng nghĩa với sự chuyển giao năm cũ sang năm mới bằng sự chuyển giao thời tiết từ mùa khô hạn hán sang mùa mưa tươi mát, lễ hội Rija Nâgar bắt đầu diễn ra trên toàn vùng của người Chăm.

Tuy nhiên, khi nói đến lễ tết mừng năm mới của người Chăm, nhiều người thường hay liên tưởng đến ngày hội Ramâwan Katé, ít ai nhắc đến lễ hội Rija Nâgar. Cho đến nay, nhiều người vẫn còn xem Rija Nâgar như là một trong những nghi lễ nông nghiệp thuần túy nhằm cầu mong những cơn mưa đầu mùa để chuẩn bị cày cấy, trồng tỉa cho vụ mùa mới hoặc chỉ xem như là lễ hội múa tống ôn đầu năm (Ngô Văn Doanh, 1998:3-6; Nguyễn Thị Thu, 2010:191; Sakaya, 2013:165). Thật ra, nếu xem xét một cách kỹ lưỡng hơn, cho thấy cách nhìn nhận này chưa phản ảnh một cách sâu sắc đúng với ý nghĩa của nó.

Vào đầu tháng giêng năm mới của người Chăm – Akaok bulan sa thun biruw – thường rơi vào cuối mùa khô, đầu mùa mưa. Vào ngày này, toàn thể cộng đồng người Chăm đồng loạt tổ chức lễ hội Rija Nâgar tại các palei có người Chăm cư trú. Thời gian diễn ra lễ hội trong khoảng hai ngày: thứ năm và thứ sáu đầu năm. Mục đích của lễ hội nhằm tiễn đưa năm cũ, đón mừng năm mới; cúng giỗ các bậc tiền bối có công với làng xã, dân làng; tống đưa những điều xấu xa trong năm cũ; cầu mong một năm mới bình an, sức khỏe dồi dào, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, cả năm bội thu mang lại ấm no và hạnh phúc cho mọi người.

Người thực hiện nghi lễ gồm Po Gru (hoặc Imâm), Maduen gru, Ka-ing gru và dàn nhạc truyền thống dân tộc. Po Gru (hoặc Imâm) đảm trách phần salawat tuyên bố khai mạc buổi lễ và đọc kinh kamruai và du-a Po Awluah. Ông Maduen đảm trách hướng dẫn các nghi thức và điều hành các nghi lễ bằng việc sử dụng chiếc trống baranâng để khởi xướng các cuộc lễ, hát bài thánh ca để ca ngợi các vị thần, đồng thời điều khiển dàn nhạc (chiêng, trống ginang, kèn saranai). Ông Ka-ing thực hiện các điệu múa dâng lễ cho các vị thần để tiễn đưa năm cũ và đón mừng năm mới “tống cựu nghênh tân” dưới sự hướng dẫn bởi Maduen gru[23].

Điều thú vị nhất trong buổi lễ này là sự nhập thần của ông Ka-ing trong vũ điệu đạp lửa. Khi đạt tới đỉnh thăng hoa, người múa có thể nhảy múa một cách sôi nổi trên đống lửa đang bùng cháy. Cùng với tiếng reo hò của những người tham dự lễ hội càng tạo thêm sự phấn khích của ông Ka-ing tiếp tục nhảy múa trên ngọn lửa cho đến khi dập tắt hoàn toàn đống lửa thì năm đó sẽ được như mong ước mưa thuận gió hòa, thời tiết không còn nóng bức và hạn hán. Vì rằng, lửa biểu tượng cho sức nóng tạo ra khô hạn.

Qua những điều trên cho thấy, Éw muk kei là lễ tục cúng giỗ gia tiên tại tư gia mang tính chất riêng biệt của từng cộng đồng Ahiér Awal, nên có sự khác nhau giữa hai cộng đồng từ nghi thức, lễ tục, lễ nghi và thời gian tổ chức. Nhưng khi nói đến Katé hay Ramâwan, thì không thể tách bạch theo từng cộng đồng riêng biệt mà phải nói đến phần chung của cả hai cộng đồng, không hoàn toàn dành riêng cho Ahiér hay Awal. Nó chỉ khác nhau ở phần người đảm trách tổ chức và nghi lễ thực hiện. Nếu người đảm trách phần tổ chức Katé là cộng đồngngười Chăm Ahiér và người điều hành nghi lễ là giới chức sắc Ahiér, thì ngược lại, người đảm trách phần tổ chức Ramâwan là cộng đồng người Chăm Awal và người điều hành nghi lễ là giới chức sắc Awal. Còn người đến dâng lễ vật cúng bái Yang hay cầu nguyện Awluah thì không có sự phân biệt Ahiér hay Awal. Đây là nghi lễ dành chung cho cả hai cộng đồng Ahiér Awal. Đặc biệt, ngày nay không có sự phân biệt giữa hai cộng đồng, cả hai cộng đồng AwalAhiér đều thờ cúng chung một vị thần Yang và cầu nguyện chung một thượng đế Awluah[24]. Điều này càng thể hiện rõ nét hơn trong nghi lễ Rija Nâgar: “Po acar kamruai Awluah, Ong ka-ing hamah Yang”. Người đảm trách các phần nghi thức và nghi lễ gồm hai giới chức sắc Awal và chức sắc Ahiér. Cả hai chức sắc AwalAhiér cùng thực hiện song song các nghi thức và nghi lễ với nhau, cho dù nghi lễ Rija Nâgar diễn ra trong ngôi làng của cộng đồng Awal hay cộng đồng Ahiér.

Kết luận

Vậy có thể kết luận, Éw muk kei là lễ tục cúng giỗ gia tiên của riêng từng cộng đồng Awal hay Ahiér. Thời gian cũng như nghi thức thực hiện lễ tục Éw muk kei của Awal Ahiér so sánh với nghi lễ KatéRamâwan là hai phần khác nhau. Éw muk kei thực hiện tại tư gia cúng giỗ Muk kei (cha mẹ, ông bà, tổ tiên). Katé thực hiện tại Bimong kalan (đền tháp) cúng bái Yang (vị thần, vua chúa), người Chăm thường hay gọi Yang Bimong, Yang Kalan (các vị thần thuộc về vua chúa). Ramâwan thực hiện tại Sang mâgik (thánh đường) cầu nguyện Awluah (thượng đế).

Xét cho cùng, Katé là lễ tục cúng bái Po Yang (Katé Yang) Ramâwan là lễ tục cầu nguyện Po Awluah (Kukuk Awluah). Nếu xét ở góc độ niềm tin và tín ngưỡng tôn giáo, người Chăm ngày nay không có sự phân biệt Katé hay Ramâwan là của cộng đồng Ahiér hayc ộng đồng Awal. Cả hai cộng đồng đều có chung một niềm tin, tín ngưỡng về YangAwluah. Mọi người đều được tự do đến Bimong kalan để dâng cúng hay đến Sang magik để cầu nguyện. Nhưng khi tổ chức đón mừng năm mới, thì phải đợi đến ngày đầu năm mới của lịch Sakawi Ahiér. Toàn bộ các palei Chăm ở vùng Nam Trung bộ đều đồng loạt tổ chức Rija Nâgar vào tháng giêng Bulan Sa, nhằm vào tháng 4 Dương lịch. Đây là một nét đẹp văn hóa của dân tộc Chăm cần nên bảo tồn và phát huy.

Tài liệu tham khảo:

  1. Aymonier E.A. (1906), Dictionnaire Cham – Francais,EFEO, Paris.
  2. Coedès G. (1999), Les États Hindouisés d’Indochine et d’Indonésie,De Boccard, Paris.
  3. Collins J. (1991), “Chamic, Malay and Acehnese: The Malay World and the Malayic Languages “, Le Champa et Le Monde Malais, Paris, tr. 108 – 121.
  4. Dominique Nguyen (2003), Champaka 3:Từ vựng Hroi – Việt, Paris.
  5. Lương Ninh (2006), Vương quốc Champa, Đại học Quốc gia, Hà Nội.
  6. Maspéro G. (1928), Le royaume du Champa,Bruxelles, Paris.
  7. Ngô Văn Doanh (1998), Lễ hội rija Nâgar của người Chăm, Văn Hoá Dân Tộc, Hà Nội.
  8. Ngô Văn Doanh (2006), Lễ hội chuyển mùa của người Chăm, Trẻ, TP. Hồ Chí Minh.
  9. Nguyễn Đình Khoa (1983), Nhân chủng học Đông Nam Á, Đại học và Trung học Chuyên nghiệp, Hà Nội.
  10. Nguyễn Hồng Dương (2007), Một số vấn đề cơ bản về tôn giáo, tín ngưỡng của đồng bào Chăm ở hai tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận hiện nay, Khoa học Xã hội, Hà Nội.
  11. Nguyễn Quốc Lộc – Vũ Thị Việt (1990), Các dân tộc thiểu số ở Phú Yên, Sở Văn hóa – Thông tin Tỉnh Phú Yên.
  12. Nguyễn Thị Thu – Thập Liên Trưởng – Nguyễn Văn Thành (2010), Lễ nghi nông nghiệp truyền thống tộc người Chăm – Raglai Ninh Thuận, Nông Nghiệp, TP. Hồ Chí Minh.
  13. Phan Xuân Biên, Phan An, Phan Văn Dốp (1989), Người Chăm ở Thuận Hải, Sở Văn hoá Thông tin, Thuận Hải.
  14. Phan Xuân Biên, Phan An, Phan Văn Dốp (1991), Văn hoá Chăm, Khoa học Xã hội, Hà Nội.
  15. Po Dharma (1987), Le Panduranga 1802-1835,EFEO, Paris.
  16. Sakaya (2013), Tiếp cận một số vấn đề Văn hoá Champa, Tri Thức, Tp. Hồ Chí Minh.
  17. Thành Phần (1996), “Tổ chức tôn giáo và xã hội truyền thống của người Chăm ở vùng Phan Rang”, Tạp san Khoa học Đại Học Tổng Hợp TP. HCM, 96(1), tr. 165 – 172.
  18. Thành Phần (2003), “Vấn đề nghiên cứu người Chăm ở Việt Nam”, Dân tộc học Việt Nam – Thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr. 175 – 182.
  19. Thành Phần (2007), Danh mục thư tịch Chăm ở Việt Nam, Trẻ, TP. Hồ Chí Minh.
  20. Thành Phần (2011), ” Một số vấn đề nghiên cứu liên quan đến tín ngưỡng – tôn giáo truyền thống của người Chăm hiên nay ở Việt Nam”, Hiện đại và động thái của truyền thống ở Việt Nam, Đại học Quốc gia, Hồ Chí Minh, tr. 215 -227.
  21. Thành Phần (2012), “Palei – Một hình thái cư trú của cộng đồng người Chăm ở Việt Nam”, Những thành tựu nghiên cứu bước đầu của khoa Nhân học, Đại học Quốc gia, TP. Hồ Chí Minh, 86 – 105.
  22. Vũ Khánh (2009), Người Chăm, Thông Tấn, Hà Nội.
  23. William B.N. (2013), “Katé 2012: Nghiên cứu về lịch sử và văn hoá”, Tập nghiên cứu Văn hoá Chăm, 13(1), tr. 21 – 27.

PHỤ LỤC

Bảng 1: Dương lịch (8 năm = 2922 ngày)

Năm Dương lịchTổng số ngày/1 nămxTổng số năm=Tổng số ngày
Năm thường365 ngày/nămx6 năm=2190 ngày (a)
Năm nhuận366 ngày/nămx2 năm=732 ngày (b)
Một chu kỳ 8 năm=8 năm=2922 ngày (c)

(a) + (b) = (c)

 


Bảng 2: Sakawi Awal (8 năm = 2835 ngày)

Năm Chăm lịch

Sakawi Awal

Tổng số ngày/1 nămxTổng số năm=Tổng số ngày
Năm thường

Thun wak

354 ngày/nămx5 năm=1770 ngày (d)
Năm nhuận

Thun nâh

355 ngày/nămx3 năm=1065 ngày (e)
Một chu kỳ 8 năm=8 năm=2835 ngày (f)

(d) + (e) = (f)


Bảng 3: So sánh Sakawi Awal với Dương lịch (chênh lệch 87 ngày)

So sánhTổng số năm/1 chu kỳ=Tổng số ngày/8 năm
Dương lịch8 năm=2922 ngày (c)
Sakawi Ahiér8 năm=2835 ngày (f)
Một chu kỳ 8 năm=87 ngày (n)

(c) – (f) = (n)

Kết quả:  

Trong một chu kỳ 8 năm, Sakawi Awal chênh lệch với Dương lịch là 87 ngày.

Mỗi năm chênh lệch gần 11 ngày (87 ngày: 8 năm = 10.875 ngày ≈ 11 ngày/năm).


Bảng 4: Sakawi Ahiér (8 năm = 2922 ngày)

Năm Chăm lịch

Sakawi Ahiér

Tổng số ngày/1 nămxTổng số năm=Tổng số ngày
Năm thường

Thun wak

354 ngày/nămx5 năm=1770 ngày (g)
Năm nhuận

Thun nâh

384 ngày/nămx3 năm=1152 ngày (h)
Một chu kỳ 8 năm=8 năm=2922 ngày (i)

(g) + (h) = (i)

 


Bảng 5: So sánh Sakawi Ahiér với Dương lịch (không chênh lệch)

So sánhTổng số năm/1 chu kỳ=Tổng số ngày/8 năm
Dương lịch8 năm=2922 ngày (c)
Sakawi Ahiér8 năm=2922 ngày (i)
Một chu kỳ 8 năm=0 ngày (m)

(c) – (i) = (m)

Kết quả:  

Sakawi Ahiér không chênh lệch với Dương lịch. Trong một chu kỳ 8 năm của Sakawi Ahiér trùng khớp với Dương Lịch.

(*) PGS.TS., Phó Giám đốc Trung Tâm Nghiên cứu Việt Nam và Đông Nam Á, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

[1] Thuật ngữ “người Chăm” dùng để chỉ tên gọi của một tộc người (tộc danh) với tư cách là một bộ phận, là công dân của Quốc gia Việt Nam ngày nay (Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam).

[2] Theo Tổng điều tra dân số vào ngày 1/4/2009, tổng dân số người Chăm ở Việt Nam vào năm 2009 có khoảng 161.729 người, như sau:

Tỉnh/Thành phốDân số (đv: người)Tỉnh/Thành phốDân số (đv: người)
Ninh Thuận67.274Đaklak290
Bình Thuận34.690Khánh Hòa271
Phú Yên19.945Long An218
An Giang14.209Bà Rịa – Vũng Tàu198
TP. Hồ Chí Minh7.819Cần Thơ173
Bình Định5.336Trà Vinh163
Tây Ninh3.250Sóc Trăng106
Đồng Nai3.887Cà Mau106
Bình Dương837Vĩnh Long91
Gia Lai659Đồng Tháp90
Bình Phước568Các tỉnh khác676
Lâm Đồng473
Kiên Giang400

[3] Xem Nguyễn Đình Khoa, 1983:56 – 60

[4] Xem Collins, 1991: 108 – 121

[5] Về việc xác định thành phần tộc người của cộng đồng Chăm Hroi, cho đến nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau, chưa có sự thống nhất (xem thêm Nguyễn Quốc Lộc – Vũ Thị Việt, 1990:45-46)). Theo Dominique Nguyen cho rằng, “Hroi không phải là người Chăm” [Dominique Nguyen, 2003:26].

[6] Theo phân loại của của Tổng cục thống kê Việt Nam: 1999

[7] Cộng đồng người Chăm Klak hiện nay bao gồm ba nhóm cộng đồng địa phương chịu ảnh hưởng tín ngưỡng tôn giáo khác nhau: 1) Chăm Ahiér (cộng đồng người Chăm theo tín ngưỡng dân gian, ảnh hưởng tôn giáo Bàlamôn; thiết lập hệ thống chức sắc Pasaih để thực hiện các nghi thức và lễ nghi liên quan đến Yang – Vị thần). 2) Chăm Awal (cộng đồng người Chăm theo tín ngưỡng dân gian, ảnh hưởng Hồi giáo Sufi; thiết lập hệ thống chức sắc Acar để thực hiện các nghi thức và lễ nghi liên quan đến Awluah – Thượng đế); Chăm Jawa (cộng đồng người Chăm Awal rời bỏ tín ngưỡng dân gian theo Hồi giáo Suni; không chịu ảnh hưởng bởi Hồi giáo Sufi và Bàlamôn giáo).

[8] Theo cách lý giải của người Chăm ngày nay, họ cho rằng Awal mang ý nghĩa “trước tiên”, biểu tượng cho kumei (nữ), cho nên người Chăm Awal tổ chức Éw muk kei trước tháng hành lễ Ramâwan, Ahiér mang ý nghĩa “sau cùng”, biểu tượng cho likei (nam), cho nên người Chăm Ahiér thực hiện Éw muk kei sau thời điểm tổ chức nghi lễ Katé.

[9] Trong văn bản viết tay của người Chăm thường nhắc đến công thức tính lịch: “Klau thun nâh, limâ thun wak, dalipan thun yah” (3 năm nhuần, 5 năm thường, đủ 8 năm là hết một chu kỳ và tiếp tục tính lại chu kỳ 8 năm tiếp theo).

[10] Riêng tháng 11 (Bulan Puis), tháng 12 (Bulan Mak) thì lại dùng tên tháng của lịch Ấn độ.

[11] Tổng số ngày của thun nâh là 384 ngày bao gồm 354 ngày của thun wak + 1 ngày nhuần của Awal + 29 ngày của tháng nhuần Ahiér. Như vậy, tổng số ngày nhuần là 30 ngày.

[12] Để nói lên mối quan hệ giữa Sakwi Awal và Sakawwi Ahiér trong việc phối hợp cách tính tịch hai bên, người Chăm thường dùng nhiều câu ẩn dụ như “Awal (ngụ ý là Kumei/vợ) khik sang ka Ahiér (ngụ ý là Likei/chồng) nao jah glai”.

[13]11 klam, 12 klam, 13 klam bulan Sakban (bulan u 29 harei).

[14] Tùy theo địa phương, thời gian có thể dài hơn hoặc ngắn hơn.

[15]13 klam, 14 klam, 15 klam bulan Sakban (bulan u 29 harei).

[16] Nghi lễ Athaw bah được tổ chức tại tư gia của tu sĩ, mời Po Gru đến làm chủ lễ.

[17] Nghi lễ Kahét tổ chức tại nhà Po Gru.

[18] Đối với người Chăm Awal ở Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận, thời gian kiêng cử không sát sinh không bắt buộc đủ 15 ngày như Ninh Thuận, có thể ngắn hơn.

[19]“Rap nam, Cam pak”mang ý nghĩa: Khi ngày đầu tháng (sa bingun) của “Rap” (Sakawi Awal) nhằm ngày “nam” (thứ sáu) thì ngày đầu tháng (sa bingun) của Cam (Sakawi Ahiér) phải tính là ngày “pak” (ngày tư) với mục đích để tránh ngày đầu tháng của Sakawi Ahiér trùng với ngày đầu tháng của  Sakawi Awal.

[20]bimong” là ngôi đền thờ có kết cấu xây dựng khung sườn bằng gỗ có thể tìm thấy ở các ngôi đền bimong Po Inâ Nâgar Hamu Tanran, bimong Po Inâ Nagar Taha, bimong Po Nit, bimong Po Dam; kalan là ngôi đền thờ xây dựng bằng kết cấu gạch; “bimong kalan” là ngôi đền thờ xây dựng bằng gạch, bên trong có kết cấu khung gỗ dùng để làm nơi thờ tự các vị thần biểu tương bằng linga – yoni, có thể còn thấy ở trong ngôi đền tháp của Po Klaong Girai và Po Romé ở tỉnh Ninh Thuận.

[21] Theo cách giải thích của người Chăm ngày nay.

[22] Công thức tính lịch Sakawi Ahiér khác với âm dương lịch của người Việt và người Hoa tính theo chu kỳ 19 năm có 7 năm nhuần.

[23] Xem thêm Ngô Văn Doanh, 2006.

[24] Theo tư liệu khảo điền dã của tác giả về lễ hội Katé vào năm 2012 cho thấy, cộng đồng Awal mang lễ vật đến dâng cúng trên đền tháp bimong kalan Po Romé chiếm tỷ cao hơn 70% so với cộng đồng Ahiér. Đặc biệt, vào buổi chiều (trước ngày lễ mở cửa tháp) tại đền danaok Po Romé tọa lạc ở palei Thuer (thôn Hậu Sanh), đa số là người Chăm Awal (99%) mang lễ vật đến làm lễ đón mừng rước Po Romé các vị thần vào danaok (đền thờ) và ngủ lại qua đêm tại danaok để sáng hôm sau (sa bingun bulan tijuh) đưa rước “Po” lên Bimong kalan tiến hành nghi lễ và lễ hội Katé.

Tại đền Po Romé (danaok Po Romé), khi Kadhar hát bài thánh ca (mre Yang), các vị thần (Po Yang) chủ yếu nhập thần vào người Chăm Awal (Yang trun di anâk ticaow Bini). Trong khi đó, người Chăm Ahiér chỉ có vài người đến tham dự.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *