Đất, nước, lửa trong văn hóa người Chăm

Thập Liên Trưởng(*)

 Tộc người Chăm từ đâu đến, hẳn có nhiều người hỏi vậy. Vốn dĩ là cư dân thuộc chủng tộc Nam đảo (Austronésien), người Chăm thiên di về sinh tụ nơi dải đất miền Trung Việt Nam từ thời kỳ Đồ Đá mới[1], cách chúng ta khoảng gần 3000 năm nay, người Chăm đã khôn khéo chọn Sa Huỳnh làm nơi dừng chân, sinh tụ và phát triển. Người Chăm Ninh – Bình Thuận hôm nay, ít người còn nhớ đến Đất tổ Sa Huỳnh, địa chỉ quen thuộc của giới khảo cổ, bờ biển gắn liền với mộ chum và gốm Sa Huỳnh nổi tiếng.

Người Chăm cổ dựng nước trên dải ĐẤT miền Trung, bốn vùng ĐẤT với nhiều huyền thoại: Amaramati, Vijaya, Kauthara và Panduranga. Trên những vùng đất ấy, tuy người xưa không còn nữa, tiếng hát “Thei mai mâng déh thei o…!” không còn vang vọng trên những sườn núi dọc miền đất từ Đèo Ngang cho đến miệt biển Kauthara. Không còn bóng dáng chiếc áo vá quàng thấp thoáng sau rặng tre xanh bên sông Thu Bồn Quảng Nam hay sông Cái Nha Trang… Tất cả đã đi vào dĩ vãng, đã trở thành người thiên cổ, chỉ còn lại hơn 10 vạn sinh linh trên cánh đồng khô khan của dải đất cuối miền Trung và những ngôi tháp cổ kính uy nghi không bóng người hương khói. Tất cả đã đi về với ĐẤT.

Đã một thời, trên dãi ĐẤT miền Trung này, người nông dân Chăm đã sản sinh ra giống lúa nức tiếng gần xa mà ở đồng bằng châu thổ sông Hồng một thời đã hát:

Lúa Chiêm lấp ló đầu bờ

Nghe ba tiếng sấm phất cờ mà lên.

Còn trong lịch sử, Lê Quý Đôn trong cuốn “Vân đài loại ngữ” cho biết vụ lúa chín thứ hai vào mùa hè ở đồng bằng Bắc Bộ là do người Việt học được của người Chiêm Thành, nên gọi là  “lúa Chiêm”, cấy trước Tết và gặt vào tháng Ba.[2]

Đất trong văn hóa Chăm là hình hài, là “cố quận”. ĐẤT  được nung thành những viên gạch bí ẩn cho đời sau đang tồn tại trong những công trình Siva giáo dọc miền Trung.

Đâu đó vang vọng:

Đây, những tháp gầy mòn vì mong đợi

Những đền xưa đổ nát dưới thời gian.[3]

… (Trên đường về- Chế Lan Viên)

Mượn “tiếng thở dài” của Chế Lan Viên để quên đi quá khứ mà ngẩng cao đầu trò chuyện với thời gian. Bởi ĐẤT hãy còn tồn tại trong nền văn hóa Chăm đặc sắc, phong phú và đa dạng.

Đất đã làm nên văn hóa Sa Huỳnh – ĐẤT của thuở hồng hoang lịch sử, nức tiếng đó đây, với dòng gốm có một không hai, độc đáo. Gốm Sa Huỳnh chỉ lên trời xanh trí tuệ của tộc người thuở đó, buổi mới đặt chân lên bờ, sau những tháng ngày dài lênh đênh trên biển cả của cuộc thiên di. Những cái bình, những cái chén, những cái khuyên tai hai đầu thú và những cái chum “quá khổ” chứa đựng di hài của người thiên cổ hãy còn mãi với thời gian như ĐẤT, luôn mãi tồn tại với ĐẤT, dù những biến cố có như thế nào đi nữa.

Đất bao dung hình hài con người mỗi lần nhắm mắt xuôi tay. Cũng từ ĐẤT, người Chăm lại tạo ra hình hài con người khi trở về với tổ tiên mà chẳng còn bóng dáng. Và ĐẤT đã làm nên dòng gốm cổ xưa nhất Đông Nam Á mà ngày nay nhiều người trên thế gian mến mộ. Đó là dòng gốm không bàn xoay Bàu Trúc.

Đến nay, không còn ai nhớ gốm Bàu Trúc có tự bao giờ, tại sao lại không dùng bàn xoay trong quá trình chế tác và cũng không biết tại sao trên dải ĐẤT miền Trung này có hai nơi cũng chế tác như vậy; chúng ta cũng đã biết gốm của người Churu palei Karang Gok huyện Đơn Dương tỉnh Lâm Đồng và của một bộ phận người Ê Đê (Ê Đê Bih) trên cao nguyên Đak Lak. Theo tôi, chúng có sợi dây liên hệ chặt chẽ trong quá khứ.

Người Chăm Bàni quan niệm, con người được sinh ra từ ĐẤT, sống trên ĐẤT, nên chết đi trở về với ĐẤT. Họ nói rằng, từ thuở hồng hoang (lirkapir), Po Awluah lấy đất sét tạo ra hình hài người đàn ông, rồi lấy xương sườn làm ra người đàn bà. Cho hai người sống với nhau trên Thiên đường (Suerga).

ĐẤT đã mang nặng đẻ đau biết bao nhiêu dòng sông, con suối, đã cưu mang chập chùng núi đồi, cõng trên mình dãy Trường Sơn hùng vĩ. Và cũng chính trên những đồi núi đó đã tiếp sức cho bao nhiêu dòng sông cuồn cuộn chảy về xuôi cho người nông dân cấy cày. Nước mọc từ cây mà Nước với cây cùng một hơi thở mà. Người Chăm đã thầm thì với nhau từ hàng mấy trăm năm trước:

Aia tamuh di cek (Nước mọc ở núi)

Harek tamuh di ralong (Cỏ mọc ở thảo nguyên)

Người Chăm thấu hiểu nỗi lòng của NƯỚC, NƯỚC từ đâu mà có, trên trời là nước của Po Awluah Hajan– nước mưa. Nhưng chỉ là giai đoạn. Miền Trung ít mưa, thừa nắng, rất cần những cơn mưa cho mùa màng tươi tốt. Người Chăm tế lễ cầu cho mưa thuận gió hòa. Nhưng cũng có lúc mưa làm cho mọi sinh linh khốn đốn vì lụt lội, lũ quét. Cũng rất có lợi đấy, nhưng cũng có lúc làm hại một khi chúng tập trung trong những tháng cuối năm, hai mặt đối lập trong một thể thống nhất, người Chăm gọi đó là Po Sapalai -Thần Hủy Diệt và Po Sapajiéng-Thần Sinh tạo. Đấy là nguyên lý lưỡng hợp Âm-Dương tồn tại trong khách quan và trong quan niệm của người Chăm (Klem-Yuer, Banai-Tanaow…)

Đồng bằng nhỏ hẹp ven biển miền Trung song song với dãy núi Trường Sơn, vì thế mà tất cả vùng đất đều có độ dốc cao. Làm sao mà cày cấy khi NƯỚC “có đó rồi mất đó” mỗi lần cơn lũ đi qua. Vua Chúa và cư dân Chăm không khoanh tay mà phải ngăn sông. Đắp đập, khai mương dẫn nước vào ruộng cấy cày; hệ thống đập nước trên khắp các dòng sông trên vùng đất Panduranga xưa đã được các vị vua Po Klaong Girai, Po Romé, Po Dam… cho xây dựng, nay hãy còn phát huy tác dụng, trong đó nổi tiếng đập nước Nha Trinh mà người Chăm gọi là “banek Cakling”, hay độc đáo hơn, tên những chân ruộng “vắng bóng” những dòng sông như ở vùng đất Gio Linh Quảng Trị xưa kia nay hãy còn dấu vết những hồ chứa lấy nước từ chân đồi ra.

Trong địa hình sinh thái như ở miền Trung, NƯỚC vô cùng quý báu đối với người Chăm. Dẫn nước vào ruộng, độ dốc cao, người Chăm “vỗ về” dòng nước như người thân đi xa lâu ngày, những con kênh, con mương ngoằn ngoèo trên cánh đồng cố giữ cho nước ở lại lâu hơn. Nhất nước nhì phân! Không có NƯỚC, cuộc sống của cư dân trở nên tàn tạ, đói rách không thể tránh khỏi.

Trời không mưa, không có nước, người Chăm phải tổ chức cúng lễ cầu mưa – Palaw Kasah, hay Yuer Yang để xin thánh thần ban cho những cơn mưa. Họ dâng lễ vật, hát, múa nhằm xoa dịu cơn thịnh nộ của thánh thần, một khi con người ứng xử không nghiêm.

NƯỚC là tất cả của cuộc đời. Con người mới lọt lòng mẹ được bà mụ rửa ráy. Tắm vội bằng NƯỚC âm ấm và một khi nhắm mắt xuôi tay trở về với ông bà, người Chăm gọi là “Draow thok” rồi sau đó thi thể được tắm rửa một cách sạch sẽ bằng NƯỚC pha với trầm hương (aia giluw). Đối với người Hồi giáo Bàni như vậy mới diện kiến được hai vị thần NakirMonkir trong ngày phán xét cuối cùng. Để rồi từ đó được lên Thiên đường (Suerga) hay phải ở lại Địa ngục “Nuraka[4]. Sau phút lâm chung, người Chăm được “ban NƯỚC” (Brei aia), lấy từ “giếng vàng” hay “giếng bạc” được biểu thị bằng chiếc nhẫn mắt: mặt trời hay búi tóc của nữ thần Déwi-karah mâta– vàng hay đồng tùy ở mỗi hoàn cảnh gia đình hay tấm lòng hiếu đức của người còn sống.

Mỗi khi thể xác và linh hồn bị ô uế, người Chăm gội tẩy, hóa giải bằng nghi thức “Ricaow Taleh” bằng hũ NƯỚC với cát lồi (Amu) trở thành chất liệu linh thiêng tống khứ nhuốc nhơ ra khỏi cơ thể con người, đem lại sự trong sáng và khỏe mạnh.

Như cái duyên tiền định, trong một năm, hai nghi lễ lớn trong hệ thống nghi lễ nông nghiệp của người Chăm là Yuer YangPalaw Kasah. Yuer Yang là nghi lễ “Tạ ơn”, “Cúng hương hỏa” sau một năm canh tác. Thần Yang đã phù hộ độ trì ban cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, thần dân trả lễ rồi liền sau đó thực hiện nghi lễ “Cúng đập” để được vững chãi, giữ được nước lâu cho mùa vụ mới. Trên cửa biển (Pabah lamângâ), nghi lễ “Palao Kasah” được tổ chức để tống tiễn những hình nhân (Salih) theo dòng NƯỚC về miền thiên giới, tâu trình “mọi việc” xảy ra trong năm qua, đem lời nguyện cầu của cư dân nông nghiệp xin cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, vật nuôi cây trồng sung mãn sinh sôi!

Nghi lễ Yuer Yang được tổ chức trên các đền tháp. Các vị chức sắc dùng NƯỚC thánh để tẩy uế nhuốc nhơ nơi chốn linh thiêng. Và nghi lễ tế thần LỬA được long trọng tổ chức trong không gian riêng biệt: ngôi tháp LỬA (Bimong Yang Apuei) hai mái hình yên ngựa.

Một vòng lớn của đời người gắn bó nhiều với LỬA. Vừa cất tiếng khóc chào đời, bà mẹ Chăm sưởi ấm con bằng hơi lửa gọi là “Ndih di apuei” và bếp lửa được nhóm giữa sân nhà ngăn không cho ma quỷ đến quấy phá đứa trẻ và sản phụ. Sinh, lão, bệnh, tử là lẽ thường tình của một đời người, ốm yếu bệnh tật, người Chăm làm lễ thánh tẩy (Paricaow), một ngọn LỬA cháy bùng nhóm trước mặt người chịu lễ để trấn an và tẩy trừ ma quỷ. Người Chăm Bàlamôn chết đi, có con bò Kapil đưa rước và linh hồn cùng với thể xác được trong sạch hóa trên giàn LỬA cháy nghi ngút.

Ba cái bếp trước nhà lễ trong ngày hỏa táng của người Chăm Bàlamôn được biểu trưng cho quá trình ‘‘mang nặng’’, hơn chín tháng trời của bà mẹ, để cho người quá cố được đầu thai sang một thế giới khác.

Trong khuôn viên nhà ở truyền thống của người Chăm ngày xưa theo quan niệm, lúc nào cũng có lửa thiêng huyền diệu ở dưới hai máng xối (tanang aia) hiện hữu, gọi là Apuei Kadhir (feu merveilleux)[5], chứ không phải lửa “Madin” như Sakaya viết trong cuốn Nghề dệt cổ truyền của người Chăm[6], ở trang 28, do Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc xuất bản.

Vào những ngày đầu năm Chăm lịch, tất cả các làng Chăm đều phải tổ chức nghi lễ Rija Nâgar, nhằm tống khứ những cái xấu xa ô uế và nghênh đón, cầu xin những điều tốt lành trong năm mới. Trong nghi lễ, có múa đạp LỬA, gây bao trăn trở cho các nhà nghiên cứu văn hóa Chăm. Theo tôi, có một ý nghĩa “nhạy bén” là một giai đoạn lịch sử-văn hóa mới được thiết lập ở xứ Panduranga cổ muốn phủ nhận vai trò cai quản hạ giới của thần lửa Agni[7]. Vì rằng hệ thống nghi lễ Rija nói chung là văn hóa Hồi giáo mà người Chăm gọi là Yang Baruw (Thần thánh mới).

Văn hóa tâm linh người Chăm gắn liền với LỬA. Lửa được biểu thị bằng những cây nến cháy sáng, biểu trưng cho trí tuệ, hào quang mà người Chăm gọi là “Danuh hadah”. Những cây nến thật to, cháy sáng trong thánh đường Bàni trong suốt 30 đêm thánh lễ. LỬA trong các chén lửa (pangin apuei) trong các lễ cúng và LỬA cháy suốt ngày đêm trong bếp (Aging) biểu hiện sự sung túc ấm no của mỗi gia đình.

Triết lý Bàlamôn giáo cho rằng: Vũ trụ được cấu tạo bởi 5 yếu tố là ĐẤT, NƯỚC, LỬA, KHÔNG GIAN và GIÓ. Vị thần cai quản hạ giới là vị thần LỬA Agni[8]. Còn tôi nghĩ rằng 3 yếu tố: ĐẤT, NƯỚC và LỬA là những yếu tố định mệnh kiến tạo nền Văn hóa Chăm.

Tài liệu tham khảo:

  1. Cabaton-E. Aymonier (1906), Dictionnare Cam-Francaise, Paris
  2. Doãn Chính, Trương Văn Chung, Nguyễn Thế Nghĩa, Vũ Tình (1992), Đại cương lịch sử triết học phương Đông cổ đại, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp.
  3. Nguyễn Tuấn Triết (2000), Lịch sử phát triển của các tộc người Mã Lai Đa Đảo Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội.
  4. Phan Văn Dốp (2002), Thử phác họa cấu trúc Văn hóa Chăm, T/c Nghiên cứu tôn giáo-4(16)/2002.
  5. Sakaya, Nghề dệt cổ truyền người Chăm, NXB Văn hóa Dân tộc.
  6. Thập Liên Trưởng và nhiều tác giả (2009), Tri thức bản địa và Văn hóa sinh thái, NXB Thế giới, Trang 177.
  7. Tư liệu điền dã.

(*) Cán bộ Trung tâm Nghiên cứu Văn hoá Chăm tỉnh Ninh Thuận.

[1] Nguyễn Tuấn Triết, 2000, Lịch sử phát triển của các tộc người Mã Lai Đa Đảo, NXB KHXH, Tr 199.

[2] Phan Văn Dốp, Thử phác họa cấu trúc Văn hóa Chăm, T/c Nghiên cứu tôn giáo, 4(16)/2002

[3] Hoài Thanh- Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học, trang 244.

[4] Sanskrit: Naraka, .Pháp: Enfer

[5] A. Cabaton- E. Aymonier, Dictionnaire Cam-Francaise, Paris 1906, p.54

[6] Madin là 1 trong 5 phẩm trật của Hồi giáo Bàni.

[7] Doãn Chính, Trương Văn Chung, Nguyễn Thế Nghĩa, Vũ Tình (1992), Đại cương lịch sử triết học phương Đông cổ đại, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp.

[8] Sách đã dẫn.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *