Khám phá các nguồn kể lại của người Chàm với lịch sử ly tán của người Chàm ở Cambodia

Nicolas Weber

Bản dịch: Hồ Thị Vui

Hiệu đính: Ysa Cosiem

downloadTÓM TẮT
Người Chàm có lịch sử lâu dài ở Campuchia. Sự hiện diện của họ ở nơi này có thể là từ thế kỷ thứ 10 sau công nguyên. Điều đáng ngạc nhiên là, rất ít nguồn tư liệu lịch sử về sự tồn tại của người Chàm và để có thể hiểu được một phần nhỏ bức tranh người Chàm ly tán giai đoạn từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 19 lại đa phần dựa vào các Biên niên sử của Hoàng gia Khmer. Tuy nhiên, người Chàm sở hữu một lượng lớn những tài liệu văn bản về lịch sử hiện đại của mình, chứa những thông tin đáng giá về tình hình văn hóa và chính trị của Campuchia từ cuối thế kỷ 18 đến khi người Pháp thành lập vùng bán đảo Đông Dương vào thế kỷ 19. Bài viết này đưa ra ý kiến về việc kiểm tra 2 bộ tài liệu đặc biệt hữu ích cho việc hiểu lịch sử sự phân hóa của người Chàm ở Campuchia: Những Bản Kể Lại của cá nhân sau thế kỷ 18 và thế kỷ 19, cùng những ghi nhận không chính thống và những bảngphả hệ Hoàng gia. Viết theo thể thơ, các văn Bản Kể Lại ghi lại khoảng thời gian lịch sử quan trọng giữa Vua Ang Chan (1797 – 1835) và Vua Norodom (1860 -1901). Những tài liệu này cung cấp những thông tin sâu sắc về sự tham gia của dân tộc Chàm trong chính trường Campuchia và những thông tin vô giá về việc người Chàm di dân ở trong và ngoài biên giới Campuchia. Hơn nữa, những tài liệu này cũng cung cấp những thông tin liên quan đến nền tảng các cuộc định cư của người Chăm mà ngày nay vẫn còn tồn tại ở Campuchia và ở miền Tây Nam Việt Nam. Theo phả hệ hoàng tộc, mặc dù tính tin cậy của tài liệu là có thể bị nghi ngờ, thì tài liệu này cũng đáng đề cập đến vì nó cho thấy những nỗ lực của người Chàm trong việc hợp pháp hóa sự hiện diện của mình ở Campuchia bằng cách liên hệ những ký ức về Chàmpa xưa, những vị vua trước đó với sự hiện hửu của họ ở Campuchia. Cùng với những phả hệ Hoàng tộc hiện còn lưu lại, thì một bằng chứng thú vị về nhận thức của người Chàm về quá khứ như là một chuỗi xuyên suốt lịch sử giúp vẽ nên bức tranh về nhận thức văn hóa, chính trị của họ đang được hiển lộ.
GIỚI THIỆU
Người Chàm là một trong những tộc người quan trọng ở Campuchia với số dân lên đến khoảng 300.000 – 400.000 người sinh sống ở khắp Campuchia, tập trung đông ở các tỉnh: Kandal, Kompong Chhnang, Kompong Chàm và Battambang.
Người Chàm là những người thuộc vùng Austronesia. Tổ tiên của họ là Vương quốc Chàmpa, một vương quốc cổ đa sắc tộc với sự tồn tại được ghi nhận từ thế kỷ thứ 2. Vương quốc Chàmpa đặt tại miền Trung Việt Nam ngày nay. Lãnh thổ của Vương quốc này kéo dài từ dải đất ven biển đến cao nguyên trung phần, từ Hoành Sơn ngày nay đến Biên Hòa. Thời cực thịnh, lãnh thổ vương quốc này được chia thành 5 khu vực chính: Từ Bắc vào Nam, Indrapura (từ Quảng Bình ngày nay đến Thừa Thiên), Amarāvatī (Quảng Nam đến Quảng Ngãi), Vijaya (Bình Định), Kauṭhāra (Phú Yên đến Khánh Hòa), và Pāṇḍuraṅga (Bình Thuận và Ninh Thuận). Campā đã dần dần bị sáp nhập bởi Việt Nam. Khu tự trị cuối cùng của Pāṇḍuraṅga biến mất vào năm 1832.
Mặc dù sự hiện diện của người Chàm ở Campuchia được chứng nhận tối thiểu là vào thế kỷ thứ 11, việc tái dựng lại lịch sử ly tán của người Chàm ở Campuchia dùng các nguồn phương ngử có thể sẽ khá là thách thức. Dân tộc Chàm là dân tộc có di sản văn hóa và văn chương khá phong phú, có điều, họ không có trong tay những tài liệu lịch sử đó. Họ không sở hữu những truyền thống lịch sử văn bản như người Khmer (ví dụ, như về Phả hệ Hoàng tộc), và vì vậy, việc tái dựng lịch sử với dân tộc này rất khó. Tất cả những nguồn bằng văn bản viết tay tiếng Chàm hiện có đều có niên đại từ thế kỷ 19 và chỉ những tài liệu liên quan đến những sự kiện xảy ra trong thế kỷ 19 mà thôi. Thông tin về cộng đồng Chàm trước thế kỷ 19, muốn tìm hiểu cần dựa vào Phả hệ hoàng tộc Khmer. Những tài liệu này mang đến những thông tin quý báu về sự tham gia của người Chàm trong chính trị, đặc biệt là từ thế kỷ 16. Tuy nhiên, chúng có thiếu xót và gộp chung dân tộc Chàm như là một khối nguyên.
Như mục đích đã nêu ra của bài nghiên cứu này, tôi đã sử dụng 2 dạng tài liệu. Loại thứ nhất được viết bởi 6 nguồn kể lại của người Chàm được viết bằng thơ/ bản diễn xướng, kể lại những sự kiện xảy ra suốt thế kỷ 19. Những tài liệu này là kho báu về thông tin liên quan đến tình hình Chính trị – Xã hội của người Chàm, và của Campuchia vào thế kỷ thứ 19. Những tài liệu nàyrất đa dạng với nhiều góc cạnh: Chính trị, Ngoại giao, Kinh tế, v.v.. và đóng góp của chúng cho việc nghiên cứu những phát triển của Chính trị, Xã hội, Kinh tế ở của tình hình cả vùng Đông Dương, Đông Nam Á đã làm chúng trở nên càng thú vị. Loại tài liệu thứ 2 mà tôi dung là các phả hệ hoàng tộc. Bản chất, các phả hệ hoàng tộc không được hấp dẫn như những tư liệu lịch sử nhưng chúng là những ghi nhận về ký ức các cuộc tha hương tới Campuchia và những nỗ lực của người Chàm để kết nối quá khứ Vương quốc Chàmpa với hiện tại ngày nay của họ ở Campuchia.

I. NHỮNG NGUỒN KỂ LẠI
Những nguồn ghi lại lịch sử Chàm rất là hạn chế. Tuy nhiên, những nguồn kể lại của Chàm vào thế kỷ 19 chính là những đóng góp quan trong cho việc tái dựng lịch sử ly tán của người Chàm ở Campuchia. Tất cả những nguồn kể lại mà tôi sử dụng để là bản copy những bản thảo được lưu giữ ở Viện Viễn Đông Bác Cổ và Thư viện Xã hội Châu Á ở Paris. Những Bản Kể Lại này được phân loại nhờ một nhóm nghiên cứu người Pháp, và có thể tìm thấy với phần mô tả “Sự bất hạnh của người Chàm ở Campuchia có thể gắn cho người Campuchia” (Lafont, Po and Nara 1977). Sự mô tả này thực sự rất dễ làm sai hướng. Kể cả khi những văn bản này không kể lại những câu chuyện vui đi chăng nữa, thì chúng cũng không mang đến một hình ảnh những người Chàm chịu đựng ở Campuchia, mà chúng vẽ nên những sự kiện ảnh hưởng đến một vài nhóm người Chàm trong thế kỷ 19. Những tài liệu này không hề vẽ nên sự chịu đựng như người ta nghĩ của một tộc người “thiểu số” (như người Chàm) bị áp bức bởi “đa số” (người Khmer). Những văn bản này mang đến cách nhìn của người Chàm với những sự kiện đã làm rung chuyển Campuchia suốt thế kỷ 19.
Theo truyền thống, những văn bản Chàm không có tựa đề, và những Bản Kể Lại của chúng tôi cũng không là ngoại lệ. Những Bản Kể Lại là thơ/bản diễn xướng dạng viết được gọi là Baruna. Etienne Aymonier và Antoine Cabaton, là những người tiên phong nhất trong nghiên cứu về tiếng Chàm, đã cho biết trong từ điển của họ rằng: Nguồn gốc của từ này là varnana “mô tả, ghi lại”, hoàn toàn tương xứng với bản chất của các Bản Kể Lại chúng tôi có được. Cuộc ly khai của người Chàm (Cam Diaspora) đã sử dụng baruna không chỉ ở dạng kể lại, mà còn là những bài thơ tình, những bài răn dạy đạo đức, và những lời khuyến cáo. Baruna là duy nhất của người Chàm ở Campuchia. Người Chàm ở miền Trung Việt Nam không sở hữu những bản viết tay này. Dạng văn viết gần nhất có thể so sánh với baruna là ariya. Ariya cũng được viết dạng như thơ. Vào thế kỷ 19, Ariya đã từng ghi lại những sự kiện như những cuộc nổi dậy chống người Việt (ví dụ: Ariya Tuen Phaow 1 hoặc Ariya Po Baruw), Lịch sử 2 vị vua cai trị của Pāṇḍuraṅga (Po Klan Thu and Po Phaok The)2 và sự đồng hóa của Chàmpa sau 1832 3. Đây chính là điều để có thể mang những bản Ariya này so sánh với những bản baruna của Cam Diaspora. Tôi đã tìm thấy một vài điểm tương đồng với những bản thơ văn viết tay của Đông Nam Á khác, như là: 2 gia phả của gia đình Khmer thế kỷ 19, Sastra Voat Krochand Sastra Lbaœk Rôba Khsat, đươc viết bởi Venerable Bâtum Baramey Pich.4 Mặc dù ngôn ngữ và hình thức của các văn bản tiếng Khmer và baruna Chàm hoàn toàn khác biệt, nhưng điều thú vị là cách chúng mô tả sự kiện và cách bắt đầu, kết thúc của tác giả thì lại tương đối giống nhau. Hơn nữa, cũng giống những tài liệu Khmer đề cập ở trên, các baruna của người Chàm dường như đều nhằm diễn hoặc kể lại cho một khán giả nào đó. Một trong những tài liệu mà tôi nghiên cứu đã kết thúc với 1 đoạn viết từ 1 nhà thơ nói rằng nội dung đó được viết để kể lại (Cam: bac). Khả năng được đọc lên của những tài liệu này khá là rõ ràng. Hầu hết các baruna đều bắt đầu với 2 từ Chàm gap yac (CM38[8]:49; CM39[36]:534; CM38[18]:303), ‘O people’, đây như là một cách định danh trực tiếp tới công chúng, và 2 từ này thường được lặp đi lặp lại trong suốt tài liệu. Những nhà thơ Chàm thì thường thêm cụm từ pang baik, có nghĩa là “lắng nghe cho kỹ” (CM38[8]:49–50 etc.), nhằm nhấn mạnh một tình huống đặc biệt nào đó, điều này khẳng định thêm về khả năng được đọc lên của văn bản.
Một đặc tính nữa của các Bản Kể Lại của các baruna là tuy chúng không có tác giả, nhưng dường như chúng được viết bởi những người trực tiếp được tham gia vào những sự kiện mà họ mô tả. Những Bản Kể Lại này chính là những ghi nhận cá nhân. Chúng mang đến những “lát cắt” về một cộng đồng hay một nhóm người Chàm tại một thời gian, địa điểm nhất định. Chúng là những tài liệu đáng giá với tư cách là những ghi chép cá nhân, chứ không phải tài liệu được viết vì lợi ích một ông chủ nào cả. Thêm nữa, những nguồn tài liệu bằng tiếng Khmer, tiếng Việt, tiếng Pháp đều xác nhận những sự kiện được ghi lại trong những Bản Kể Lại ấy. Cuối cùng, là tất cả các Bản Kể Lại này đều có ngày tháng. Để ghi lại, người Chàm (cả ở Campuchia lẫn Việt Nam) đều dùng chu trình 12 năm, và mỗi năm được đại diện bởi 1 con giáp: Tý (Cam: tikuh), Sửu (kabaow), Dần (rimaong), Rồng (nagaray), và cứ thế. Chu trình 12 năm này đánh dấu khá giống với lịch người Việt và người Trung Quốc. Có điều, chỉ có hệ thống ghi ngày dùng trong các bản thảo: người Chàm Campuchia không bao giờ có thông lệ ghi triều đại vua Campuchia, hay hệ thống ngày của Phật giáo lẫn Hồi giáo. Vì vậy, với một người đọc ở thời hiện đại, để có thể hiểu hết được những baruna Chàm thì cần phải dùng đồng thời các nguồn tư liệu lịch sử tiếng Khmer, tiếng Việt, lẫn tiếng Pháp.
1 Để làm bài giới thiệu hay dịch bản này, xem Weber 2003.
2 Xem Po 1987.
3 Xem Weber 2012.
4 Để làm bài giới thiệu hay dịch 2 bản này, xem Khin 2002

Hình 1: Trang đầu tiên của CM38(8), Thư viện Xã hội Châu Á, Paris.

Tôi đã làm việc trên 6 văn bản. Mỗi một văn bản lại ghi lại một thời gian khác nhau trong lịch sử ly tán Chàm Diaspora, và trong một số trường hợp, có cả Chàm ở Tây Nam Việt Nam. Trong số 6 Bản Kể Lại mà tôi nghiên cứu nhằm viết bản bài viết này, thì 3 bản đề cập đến cuộc tha hương của vua Po Cei Brei, nguyên là người trị vị của vùng Pāṇḍuraṅga, sang Campuchia vào năm 1795–6; Thời gian sống tạm ở vùng rừng núi Donnai (Đồng Nai, tiếng Việt), và thời điểm cuối cùng ở Tây Ninh năm 1812-3 (Cam[27], CM39[24] và CM39[38]). Một Bản Kể Lại khác ghi lại việc di cư của một nhóm người Chàm và Malay từ Phnom Penh sang phía Tây Nam Việt Nam, chính xác hơn là vùng Châu Đốc, vào năm 1843–4 (CM38[8]). Cuộc di cư này xảy ra khi Campuchia vẫn nằm dưới sự bảo hộ của người Việt (1820–48) và được người Việt thực hiện nhằm khai khẩn thuộc địa quân sự của Tây Nam Việt Nam. Một Bản Kể Lại khác nữa thì giải thích hệ quả những điều đã diễn ra trong cuộc nổi dậy của Tuan Him và những người anh em chống lại Vua Ang Duong (1841–60) vì những thân chủ Chàm của Ang Duong. Chúng cũng nhấn mạnh việc tái định cư từ tỉnh Thbaung Khmum (Kongpong Chàm) đến Kompong Chhnang. Một bản ghi lại đã cung cấp những chi tiết về sự tham gia của các thân chủ của Ang Duong (1841–60) với những cuộc đấu tranh mà Hoàng tử Norodom và Hoàng tử Sisowath lãnh đạo chống lại người anh cùng cha khác mẹ Si Votha, Acar Sva (CM39[36]). Tài liệu kể lại cuối cùng mang lại những thông tin về cuộc chinh phục Tây Nam Việt Nam của người Pháp từ 1861 và những hệ quả với người Chàm (CM39[37]).
Những Bản Kể Lại của người Chàm là một kho tàng thông tin. Ngoài những khoảnh khắc quan trọng được đề chú trong lịch sử Campuchia lẫn Tây Nam Việc Nam, các baruna còn đặc biệt tâp trung vào những sự kiện có ảnh hưởng chính đến các cộng đồng người Chàm. Tôi đã lựa chọn ra một vài điểm quan trọng cho việc hiểu biết của chúng ta về lịch sử cuộc Ly tán của người Chàm. Tất cả các Bản Kể Lại của người Chàm đều tưởng niệm một cuộc tha hương, một sự thay thế, hay một cuộc di cư. Đó là những sự kiện chính xãy ra ở trên phương diện cộng đồng hay làng xã làm xáo trộn đời sống các cộng đồng nhỏ và của những người bình thường, vì vậy nó tạo nên một khoanh khắc đáng để ghi nhận. (YSA COSIEM NGừNG KIểM DUYệT ở ĐÂY) Những Bản Kể Lại của người Chàm đều mô phỏng việc rời bỏ một làng hay nơi chôn nhao cắt rốn là trải nghiệm đau buồn mà đa phần thời gian gây nên những mất mát của sự bình yên và hạnh phúc. Những Bản Kể Lại này cho thấy rõ ràng: những ký ức đau khổ liên hệ với việc bị tha hương sẽ luôn được nhớ mãi. Chuyện tha hương, hay bịdi dời phải được tưởng nhớ và đưa vào các áng thơ với mục đích mong muốn thế hệ sau đọc nó, và giúp truyền lại ký ức (CM38[8]):49, 89; CM39[37]:539). Hơn thế nữa, ngoài việc tưởng nhớ những cuộc tha hương, các Bản Kể Lại cũng chính là những nhật ký di cư đáng giá. Chúng mang đến những chứng nhận quan trọng về hành trình người Chàm đã thực hiện, dù từ Pāṇḍuraṅga đến Campuchia, từ Campuchia đến Tây Nam Việt Nam, hay trong biên giới Campuchia, và việc định cư của các cộng đồng Chàm.
Các Bản Kể Lại của người Chàm cho thấy người Chàm liên quan rất lớn đến tình hình Chính trị và nội vụ Campuchia. Mặc dù người Chàm có nguồn gốc khác, tuân theo một tôn giáo và tập tục khác, nói thứ tiếng khác, nhưng những điều này chưa bao giờ ngăn trở họ khỏi việc hoàn toàn hòa nhập vào xã hội Campuchia. Những Bản Kể Lại này cho thấy rất nhiều người Chàm đã được chỉ định làm việc với các vị trí là các thẩm phán, và đại diện tại cấp độ tỉnh với tư cách là phụ tá của tỉnh trưởng (Cam: mbalat từ tiếng Khmer: balat), người phó hoặc trưởng làng (Cam: banya, tiếng Khmer: ponhéa); Tổng trưởng (Cam: masraok; Khmer: mésrok) và đại diện Bộ Tư Pháp (Cam: manu, tiếng Khmer: menou) (CM39[36]). Một số người Chàm còn nắm giữ quân đội: Một Bản Kể Lại có ghi rằng, một người Chàm đã có chức danh là Sina Jei Jian(CM39[36]), Nghĩa là một vị tướng biết đánh trận. Điều này cho thấy Vua đã cử ông ấy vào quân đội.
Vào thế kỷ 19, ở Campuchia, hoạt động chính trị của người Chàm và ảnh hưởng của họ có thể thấy được qua hệ thống chủ – khách. Những văn bản này cho biết rằng, người Chàm là khách của các vị Vua, các vương gia, công chúa và các vị quan cao cấp của người Khmer. Bằng việc chọn một người chủ bảo trợ Khmer, là 1 thành viên của Hoàng gia, hay 1 vị chức sắc cao quý, người Chàm có thể nhờ đó hưởng thụ sự bảo vệ và được đề nghị những vị trí làm việc hành chính, quân đội hay tòa án. Ngược lại, bằng cách kết hợp những người Chàm là thân chủ, những người bảo trợ Khmer cũng đưa ra đề nghị về một mạng lưới dày đặc với những mối quan hệ gia đình và liên kết làng xã. Họ không có quan hệ máu mủ hay thân thích với các thành viên hoàng tộc nên rất cởi mở với bất kỳ sự giao thiệp nào. Vào thời kỳ khủng hoảng, người Chàm đã dễ dàng vận động. Những Bản Kể Lại cho thấy dân tộc Chàm đã tập hợp lại xung quanh các Vương vị như Vua Ang Chan hay Nữ hoàng Ang Mei (CM38[8]), hay các Hoàng tử như Norodom, Sisowath và Si Votha (CM39[36]). Những vị quan người Khmer hay người Chàm, Malay như: Oknya Bara Ansa Him, hay Tuan Him (CM39[36]), người lãnh đạo cuộc nổi dậy chống lại vua Ang Duong vào năm 1858–9, đều là người bảo hộ cho những người Chàm. Người Chàm cũng tụ lại bên cạnh những người ngoài vòng quyền lực, điều đó có nghĩa là, họ gia nhập vào tầng lớp những người lãnh đạo dân chúng như Acar Sva (Assoua). Các Bản Kể Lại này cho thấy rõ ràng mối quan hệ Người bảo trợ – Thân chủ và lòng trung thành đã được sử dụng rất rộng với những quyền lực khác nhau cả trong và ngoài Campuchia, như người Việt và người Pháp đã dùng chúng cho những mục đích của mình. Tuy nhiên, dù người họ chọn đi theo là ai, thì người Chàm luôn phải chịu đựng hệ quả của lòng trung thành và thỉnh thoảng còn bị phạt tập thể. Ví dụ, toàn bộ dân làng nơi sinh ra các lãnh đạo cuộc nổi loạn năm 1858-9 (Rokapopram) đều đã bị xử phạt một cách tàn nhẫn. Một Bản Kể Lại cũng cho biết rằng, người ta đã bị biến thành nô lệ và phải chịu các loại sỉ nhục. Họ bị bắt, bị chia tách khỏi nhau, và bị đưa đến những nơi khác. Các thế lực Hoàng gia đã sỉ nhục họ và in lên họ những dấu hiệu ô danh mà thường dùng cho những kẻ phản bội:
Họ bị chia tách ra, và bị hạ thành ra-mbep. Những cậu bé, cô bé thì bị thảm sát và nhà của thành viên vị quan lại thì bị bắt giữ. Vì là tuen và mbalat, nên tay họ bị xăm trổ. Họ bị hạ cấp thành ra-mbep. Tất cả bị nhốt [trong tù]. [Người Chàm] bị ép gỡ bỏ xà rông khan và bóc lúa. Tóc bị cắt ngắn […] Họ bị bắt mở các kho thóc của mình và nuôi [quân đội bằng chính lương thực của họ]. Toàn bộ dân [của các làng nổi loạn] đều bị di tản. [Đàn ông] bị bắt trói và bị chặt đầu không lý do (CM39[36]:601).
Tác giả dùng từ ra-mbep, là từ Chàm cho từ rebeb của Khmer, mà được lược dịch đi là ‘nô lệ’. Thực ra từ này mô tả 1 người bị tước bỏ toàn bộ nhiệm vụ và bị quy cho làm nô lệ như một hình phạt. Những tù nhân chiến tranh cũng được gọi là băng nhóm phản nghịch, hình phạt của họ cũng tương tự: các thành viên trong gia đình bị phân tán, và giáng xuống làm nô lệ, cơ thể họ bị xăm trổ và tóc bị cắt ngắn.
Các Bản Kể Lại này cũng chỉ ra rằng, những người bảo hộ (là người Khmer, người Chàm hay người Malay) đã dùng người Chàm vì khả năng quân sự và thường là vì mục đích bảo an, như là hộ vệ. Sau cuộc tấn công của người Siam vào năm 1812–3, người Chàm và người Maly đã tháp tùng thuyền của Ang Chan từ Phnom Penh đi Bến Nghé (Gia Định) (Cam 27:[36] và CM39[24]:338). Những nhóm lớn người Chàm cũng được dùng đến trong những cuộc xung đột nghiêm trọng. Vào năm 1858–9, vua Ang Duong mời người Chàm đến buổi tiệc và giúp ông đè bẹp cuộc phản loạn của Rokapopram. Những thân chủ Chàm của ông đã được phép dẫn binh và dùng vũ khí của mình để giúp Vua (CM39[36]:476). Vào năm 1861, sau khi Hoàng tử Sisowath đánh bại 1 trong những kẻ đi theo Si Votha, Yothéa Kâmhêng, Ông nhờ người Chàm giúp ông trong suốt những trận đánh để sinh sống tại Chhruy Changvar, một bán đảo nhỏ trong dòng Mekong bên kia Kinh thành Hoàng gia ở Phnom Penh (CM39[36]:514). Bằng cách dùng người Chàm, Sisowath đã bảo an được kinh thành của mình. Nếu bị tấn công, người Chàm chỉ cần vượt sông là đến được Kinh thành. Ngoài ra, trong suốt các trận đánh Hoàng tử Norodom chống lại Hoàng tử Si Votha, Norodom đã không ngần ngại thuê người Chàm bảo vệ ông (CM39[36]:515–6). Các Bản Kể Lại này ngụ ý rằng cuộc ly tán của người Chàm- Cam Diaspore, không chỉ liên quan đến tình hình nội bộ Campuchia, mà còn có vai trò rất quan trọng với Chính trị bên ngoài Campuchia. Các tài liệu này cho chúng ta thấy rằng suốt thế kỷ 19, một số nhóm người Chàm đã có mối quan hệ đặc biệt với người Việt Nam. Những người Chàm đã được sử dụng để khai khẩn những thuộc địa quân sự của người Việt phía Tây Nam: Tây Ninh và Châu Đốc. Suốt thế kỷ 19, người Chàm luôn bị phân chia thành 2 vùng chính. Các nguồn tư liệu lịch sử bằng tiếng Việt xác nhận rằng, cuộc Ly tán của người Chàm – Cam Diaspora đóng góp phần trong việc thuộc địa hóa vùng Tây Nam Việt Nam. Bằng sự sinh sống của người Chàm ở Tây Ninh và Châu Đốc, người Việt đã có thể bảo vệ các trung tâm hành chính và tiền tiêu, đồng thời tăng cường sự khai khẩn ở những vùng có người Khmer và các nhóm tộc người khác sinh sống (như Stieng).5
Việc thành lập quân đội của Po Cei Brei, nguyên là người trị vì Panduranga, ở Tây Ninh không phải ngẫu nhiễn: Ông đã được định là người đứng đầu quân đội của một vùng thuộc địa quân sự. Ông cũng được cấp những đặc quyền dành riêng cho những người sáng lập thuộc địa mới, như là: Ông và những người Chàm dưới trướng đều được nằm trong danh sách miễn lao dịch (Cam 27:39). Chính quyền người Việt còn rất coi trọng Po Cei Brei và mang tặng ông lụa là và súng ống (CM39[39]:546). Sauk hi Po Cei Brei thành lập quân đội ở Tây Ninh, ông được yêu cầu dùng quân đội để chống lại những cuộc tấn công của người Khmer, đồng thời cũng sẽ dẹp bất cứ cuộc nổi dậy chống người Việt nào, như cuộc nổi dậy của Phauw Bo và Sulutan (CM39[38]:544–5). Một ví dụ khác, vào năm 1843–4, khi người Việt quyết định đưa người Chàm và Malay từ Phnom Penh về Châu Đốc, người Chàm đã được lệnh phải dựng các thôn dọc đường về (CM38[8]:50, 58, 63). Rõ ràng, họ đã bị sử dụng trước tiên nhằm bảo vệ người Việt trong khi rút quân về Tây Nam Việt Nam, đồng thời, có thể dùng họ cho mục đích trở lại Campuchia sau này. Các chốt quân sự được thành lập ở Châu Đốc, người Chàm được cung cấp vũ khí (CM38[8]:87). Điều này xác nhận vai trò chống chặn của những thôn làng mới được người Chàm lập nên. Cả người Campuchia lẫn người Việt đều rõ rằng, kể từ sau khi kết thúc quyền bảo hộ Campuchia của người Việt (1847), người Việt cố gắng để duy trì mối quan hệ đặc biệt với một số nhóm người Chàm và đã thành lập những thành phần chính trị người Chàm ở Châu Đốc. Vì vậy, rõ có thể việc những tướng lĩnh người Chàm và Malay trong cuộc chính biến 1858–9 ở Campuchia rút về Châu Đốc không phải là ngẫu nhiên, họ đã nhận được sự hỗ trợ của những quan chức địa phương (CM39[36]:503).
Qua những bài kể lại này, chúng ta cũng xác nhận được việc di trú/lưu vong/ thay đổi chỗ ở thường là kết quả của một nhiệm vụ chính trị.6 Khi Po Cei Brei rút về Việt Nam sau cuộc xâm lược của người Xiêm ở Campuchia ông đã tự tiến cử mình với Vua Gia Long ( vốn là đồng minh cũ của ông, Nguyễn Phúc Ánh) (CM39[38]:540). Po Cei Brei đã đồng ý quy thuận Vua Gia Long và là một trong những tướng lĩnh địa phương của Vua Gia Long (Cam: cang – từ tiếng Việt là: chưởng cơ)(CM39(38):546). Việc thiết lập quân đội ở Tây Ninh là kết quả của nhiệm vụ chính trị mới của Po Cei Brei hướng Vua Gia Long. Ông không còn lựa chon khác ngoài chấp nhận địa vị mới của mình, với tư cách là người phụ trách quân sự chính của vùng đất mới. Vào năm 1843–4, một nhóm lớn người Chàm và Malay ở Phnom Penh đã được thay bằng người Việt đi theo một người bảo trợ mới, có thể là Nữ hoàng Ang Mei (1835–47), trong các Bản Kể Lại gọi là tuanku – trong cuộc lưu vong ở Tây Nam Việt Nam (CM38[8]:59). Điều thú vị là cho đến nay thì từ “tuanku´ mang nghĩa “Đức Ngài của chúng con” là một từ Malay dùng cho cả Vua và Nữ Hoàng. Việc dùng từ này cho thấy Cộng đồng Chàm ở Phnom Penh đã hòa cùng người Malay. Bản Kể Lại cũng nói rõ rằng, toàn bộ người Chàm và người Khmer đã được thay thế nhằm phục vụ Nữ Hoàng (Cam: gun putao) (CM38[8]:49). Người Chàm thực sự đã ổn định tại những vùng quân sự mới của Việt Nam, và đặc biệt là ở Châu Đốc. Vào năm 1858–9, khi cuộc nổi dậy của Thbaung Khmum và việc người dân các vùng nổi dậy bị lưu đày (CM39[36]:500), Vua Ang Duong đã ra lệnh cho những đồng minh người Chàm của mình rời khỏi làng mình ở Thbaung Khmum (Pring) và sinh sống gần Hoàng thành Oudong, ở Prey Pis và Chhuk Sar (CM39[36]:499). Vua Ang Duong đã tận dụng một cách triệt để “Trách nhiệm chính trị” và lòng trung thành của người Chàm. Đây là một quyết định mang tính chiến lược cao. Bằng cách yêu cầu những đồng minh người Chàm chuyển đến chỗ mới, Ông đã đảm bảo được việc giữ họ bên cạnh Hoàng thân. Nếu xảy ra tấn công hay xung đột, họ có thể dễ dàng tiếp cận để bảo vệ Hoàng Thành. Tuy vậy, việc đưa người Chàm đến sống quanh Oudong cũng là một cách rất thông minh để phá vỡ sự liên kết sẵn có giữa cộng đồng này và dân làng ở Thbaung Khmum, và đặt người Chàm dưới sự giám sát. Những Bản Kể Lại của người Chàm cũng rất hữu ích với những thông tin liên quan đến lịch sử xã hội Chàm. Họ đã ghi lại những phong trào lớn của người Chàm trong và ngoài Campuchia, và mang đến những mô tả sinh động và vô giá về những cảm giác, khó khăn mà người Chàm đã phải đối mặt trước và sau những lần thay đổi nơi sống. Đây là một đoạn trích mô tả cảm giác của người Chàm ở Phnom Penh vào năm 1843–4 ngay trước khi bị chuyển tới Châu Đốc:
Chúng ta không biết liệu rồi chúng ta có phải rời bỏ đất nước này không. [Nếu phải rời đi], hẳn chúng ta sẽ không còn được nhìn thấy xóm làng thân yêu này nữa. Hãy lắng nghe điều ta nói: Tất cả đã bị phá hủy. Chúng ta phải rời bỏ làng mạc chỉ bằng một ngọn lửa. Chúng ta rời làng [trên đôi chân của mình]. Hãy lắng nghe cho rõ: Chúng ta đã phải rời làng, và chúng ta đã phải tiến về phía trước theo một hàng dài vô tận trên những con đường… Trong lúc đó, có người [trong chúng ta] đã sợ hãi dúm dó, có người khóc lóc kêu gào [tên] những đứa con và những người già, có người lại [rất] bất an và trốn chạy. Một số khác thì quên rằng thuyền của họ đã bị đâm thủng, [nhưng họ vẫn muốn trốn thoát trên những chiếc thuyền này]. Số khác thì kéo họ ra [khỏi thuyền] để bỏ trốn (CM38[8]:49).
Một đoạn tương tự cũng cho thấy những khó khăn mà người Chàm đối diện sau khi phải di chuyển đến Tây Nam Việt Nam. Trong năm 1843–4, người Chàm đã tự coi mình là bị bần cùng hóa:
Chúng ta không giữ bất cứ tài sản gì của mình. Chúng ta nghĩ rằng ta đã có thể mua [những thứ đố khác bằng cách bán tài sản của mình]. Thật không, may là chúng ta không còn gì cả. [Chúng ta còn không đủ khả năng] mua thóc gạo. Chúng ta bắt đầu [gánh chịu] nạn đói. Không ai còn đủ tiền để mà mua [thóc, gạo]. Chúng ta đã hết sạch gạo rồi. Người Việt thì có dư gạo. Chúng ta đã đang ở trên miệng vực của sự thụt lùi, không có tiền, chúng ta không thể mua gạo dư thừa của người Việt (CM38[8]:83).
Những người Chàm di cư đã phải phụ thuộc vào chính quyền người Việt vì sự tồn vong của mình. Có lúc, người Chàm đã được miễn nghĩa vụ quân sự vì họ cần trồng lúa và tìm cách để nuôi sống chính mình (CM38[8]:87). Mỗi tuần 1 lần, chính quyền người Việt đã mang gạo đến cho những gia đình Chàm bị đói khổ (CM38[8]:87, 89). Mặc dù có sự giúp đỡ của những quan chức sở tại người Việt, người Chàm vẫn rất ngạc nhiên khi không tìm thấy sự đồng tình hoặc rất ít từ những người Việt định cư ở đó. Tài liệu cho biết rằng một số người Chàm đã cầu xin người Việt gạo, nhưng họ đã bị quay lưng đi (CM38[8]:88–9).
Những cộng đồng di cư ở trong Campuchia cũng gặp khó khăn. Hầu hết thời gian, sự di chuyển của họ dã dẫn đến tổn thất lớn về người và lâm vào đói kém nặng nề:
Gạo [đã thất lạc] và chúng ta phải ăn garathaok [ một loại cây rừng]. Ban ngày, chúng ta đi vào rừng để kiếm chúng [cây garathaok]. Ban đêm, chúng ta mang nó về [làng], bóc vỏ và chặt nhỏ nó. Những đứa trẻ thì không được ngủ yên. Nhìn thấy vậy, chúng ta đã rất luyến tiếc thời gian chúng ta có thể mua các thứ mà không phải suy nghĩ gì. Bây giờ, nhìn lũ con chúng ta khóc. Chúng ta rớt nước mắt thương xót. Một số [người lớn] chuẩn bị món hầm [với bất cứ cái gì chúng ta kiếm được]. Một số thì không có gì để ăn, [một số khác, thì có thể tìm thấy] khoai lang và cà tím. Những người nghèo nhất thì chặt khúc thuyền của họ thành từng mảnh bán đổi lấy thóc gạo. Chúng ta đã rất mệt mỏi vì phải chặt củi và bị đói. Chúng ta đã buộc mình bước tiếp nhưng cơn đói đã làm chúng ta suy yếu. Một vài người thì nghĩ [tìm cách thoát khỏi cảnh đói] và quyết định đi xa hơn, chặt cây. Củi có thể dùng như đồ trao đổi và giúp [các gia đình] có ăn. Đói không cho phép người ta coi thường người khác. Phụ nữ thì không được yên ổn (CM39[36]:525).
Nhưng vấn đề họ gặp phải không chỉ là nghèo đói. Việc ăn ở như vợ chồng dường như là vấn đề chính, đặc biệt là với những người Chàm chạy nạn tới vùng Tây Nam Việt Nam. Vào năm 1820–1, Po Cei Brei và những người đi theo ông đã được chính quyền Việt Nam cho hưởng những đặc quyền tạo điều kiện cho việc thiết lập quân sự (như, miễn thuế, tặng gạo, v.v..) và những điều đó đã làm những người Việt khai hoang ở đó tức giận. Tình hình quá căng thẳng nên Po Cei Brei và những người đi theo ông đã phải chuyển đến một chốn xa hơn (CM39[38]:543). Ở Châu Đốc, vào năm 1843–4, mối quan hệ giữa người Chàm và những người Việt khai hoang rất căng thẳng: người Việt cố tình để cho người Chàm đói đến chết (CM38[8]:88). Kể cả là những hành động nhỏ nhặt như bớt đi một nhúm muối, thì chúng cũng thể hiện những vấn đề giữa những cộng đồng di cư mới và mâu thuẫn bắt đầu diễn ra giữa những cộng đồng di cư mới và cũ.
II. NHỮNG PHẢ HỆ HOÀNG TỘC CHÀM
Các phả hệ hoàng tộc trong cuộc Ly tán của người Chàm (Cam Diaspora), sawa-nda hoặc phongsawa-nda, từ từ tiếng Pali/Khmer là rājabaṅsāvatā/réachea pungsawada(‘Phả hệ hoàng tộc’) là những tài liệu khá đau đầu. Các phả hệ Hoàng tộc này là những phần chữ trộn lẫn danh sách các vị Vua truyền thuyết, với các hồi tưởng về những phần lịch sử Chàmpa, và các danh sách dòng dõi Hoàng gia Chàm ở Campuchia.
Các phả hệ Hoàng tộc này được đọc to trong một buổi lễ có tên là Mamun trong khi các đồng cốt được những linh hồn của các vị vua Chàmpa nhập sẽ đọc to những phần về lịch sử Chàmpa. Buổi lễ được tổ chức mỗi năm ở làng O Russei ở tỉnh Kompong Chhnang. Vào cuối buổi lễ, 3 người đàn ông trẻ, được coi là con cháu của hoàng gia, sẽ được truyền lại những thông tin của Phả hệ này.7
Mặc dù trong suốt các buổi lễ, phả hệ này được xướng lên nhưng chúng không chỉ đơn thuần là những vật để ghi nhớ giúp người diễn xướng gợi lại những sự kiện, mà chúng còn là sự kết nối của người Chàm với cảm nhận về bản sắc và lịch sử Chàm. Các phả hệ Hoàng tộc mang những kinh nghiệm về cuộc ly tán, và thiết lập ở Campuchia. Thông qua việc kể lại danh sách những vị vua, và những hành động của họ (đa phần là những trận đánh nhau với người Việt), Sự tha hương của người Chàm ở Campuchia trở nên “dễ hiểu và chính đáng theo chữ nghĩa sẵn có”.8
Các phả hệ Hoàng tộc của cuộc Ly tán của người Chàm/ Cam Diaspore giải thích những nguyên nhân sự tha hương của người Chàm ở Campuchia và việc để mất đất đai tổ tiên. Tuy vậy, bằng cách liecen hệ sự tha hương này với một lịch sử thần thoại của Chàmpa, người Chàm đặt sự kiện này như là một phần phát triển logic của lịch sử Chàm và không phải là một sự gián đoạn chính. Không giống những Bản Kể Lại, các phả hệ của Hoàng tộc của Cam Diaspore không đáng tin như những nguồn lịch sử. Nhưng chúng chỉ là những tài liệu cung cấp thêm những quan điểm lịch sử về Cam Diaspore.
Tôi đã làm việc trên 4 văn bản: Cam 26 ở Viện Viễn Đông Bác Cổ; CM39(25) và CM38(10) ở Thư viện Xã hội Châu Á; và M/E07/014 từ một bộ sưu tầm của một cá nhân9, Kai Mal, ở làng O Russei, Tỉnh Kompong Chhnang. Những văn bản này khá là khác với nhau: về độ dài danh sách các vị vua, cũng như chi tiết những câu chuyện liên quan cũng thay đổi đáng kể. Một số phả hệ hình như đươc copy từ một số nguồn, số khác thì lại là các phiên bản bị cắt bỏ như là được đọc cho một người chép lại vậy. Đây là ví dụ làm thế nào mà Jean Moura, lúc bấy giờ là Tổng lãnh sự Pháp ở Campuchia, đã thu thập được 1 bản các phả hệ hoàng tộc từ Po Takay, một người Chàm tự xưng là con cháu Hoàng tộc (Moura 1883: I, 466). Cuối cùng, một số phả hệ có thể được ghi lại dựa theo trí nhớ.

Hình 2. 2 trang đầu tiên của Phả hệ Hoàng tộc thuộc về Kai Mal, Làng O Russei village, Kompong Chhnang (Hình: Emiko Stoke)
Điều quan trọng cần lưu ý là các phả hệ hoàng gia Cam Diaspora của có rất ít điểm chung
với phả hệ hoàng gia của Chàmpa giữ trong cộng đồng Chàm của miền Trung Việt Nam. Phả hệ hoàng gia ở miền Trung Việt Nam được gọi là sakaray, một từ bắt nguồn từ hai chữ Phạn
các điều khoản: Saka (tên của một thời đại) và rāja ‘Vua’. Phả hệ hoàng gia Chàmpa cho các danh sách các vua Panduranga, thời gian trị vị (theo lịch Chàm), và tên của các con cháu của họ. Hơn nữa, từ thế kỷ thứ 18 đến thế kỷ thứ 19, các phả hệ hoàng gia đề cập đến các chức danh hành chính do người Việt Nam phong cho các nhà lãnh đạo Chàm, như ví dụ các Ceng (từ Việt: chưởng cơ, “đội trưởng của đơn vị đồn trú”). Dù thế nào thì Phả hệ hoàng gia Chàmpa không kết hợp thêm những câu chuyện kể thêm về tiểu sử, truyền thuyết hay những câu chuyện. Điều đáng nói là tên của các vị Vua trong Phả hệ Chàmpa và phả hệ hoàng gia Cam Diaspore không ăn khớp với nhau. Hầu hết tên Vua đề cập trong các văn bản Cam Diaspora, với ngoại lệ đáng chú ý như Po Nit, Po Po và Naraop Cang, không tồn tại trong bản phả hệ Chàmpa. Theo Panduranga của phả hệ hoàng gia, thời gian Po Nit trị vì 1603-1613 và Po Nraop 1652-1653(Po Dharma, 1978). Đối với Po Cang, thì Bản Kể Lại của Po Cei Brei đã đề cập ở trên. Lý do cho sự không tương đồng vẫn còn mơ hồ. Điều này có nghĩa rằng Cam Diaspora tái tạo hay phát minh ra quá khứ của chính mình? Tên của các vị vua đến từ đâu? Nhiều câu hỏi chưa được trả lời.
Phả hệ hoàng gia Cam Diaspora bắt đầu ở Chàmpa và kết thúc rất tự nhiên tự nhiên ở Campuchia. Khá thú vị là Các phả hệ không bao giờ sử dụng thuật ngữ ‘Chàmpa “nhưng cụm từ ‘Đất nước của Parik và Panrang’ (Cam: nagar Parik Panrang), vùng phía Nam của Panduranga (tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận ngày nay).
Không phải tất cả các vị vua trong phả hệ hoàng gia Cam Diaspora của có tiểu sử chi tiết. Ví dụ, một phiên bản của phả hệ ghi chép tiểu sử của vị vua đã chiến đấu chống người Việt, như vua Po Manit. Theo gia phả, một vị vua không biết tên người Việt đã gửi một trong những Tướng của ông, Aong Hau, và một đội quân hai mươi ngàn lính đến để tiếp quản vương quốc của người Chàm. Các trận đánh đã diễn ra sau đó, nhưng vương quốc lại được cứu một cách kỳ diệu bởi sự can thiệp của Aolaoh Ta-ala10 (Cam 26: 8-9). Po Manit này có vẻ là Po Nit của phả hệ hoàng gia Panduranga người trị vì từ năm 1603 đến năm 1613. Những ghi chép chính thức của người Việt cũng khẳng định cuộc chiến với người Việt này. Năm 1611, sau một cuộc tấn công Chàmpa trên biên giới của Quảng Nam, Chúa Nguyễn Hoàng đưa quân đến tấn công Chàmpa. Ông bắt nhà Vua và để quân đội của ông chiếm một lãnh thổ từ núi Cù Mông đến núi Thạch Bi. Sau đó ông chuyển vùng lãnh thổ này vào thành một phủ thuộc Phú Yên (Đại Nam Thực Lục 2002: 36).
Có một vị vua hầu như luôn luôn có mặt trong các phả hệ hoàng gia Cam Diaspora, và được nhớ đến vì những vấn đề của ông với người Việt, là Po Phindisak. Theo các văn bản, người Việt đã cố gắng nhiều lần để xâm nhập vào vương quốc của Chàm nhưng không bao giờ có thể thành công nhờ một cây thiêng, kraik, bảo vệ đất nước này. Một phiên bản phả hệ hoàng gia nói rằng cây này có sức mạnh siêu nhiên (Cam 26). Hiểu được những sức mạnh thần thánh của cây, người Việt đã gửi một cô gái xinh đẹp để kết hôn với vị vua này và lừa anh cắt cây. Po Phindisak đã rất yêu cô gái, kết hôn với cô và cuối cùng hạ lệnh đốn bỏ cây thần kraik này. Người Việt Nam sau đó xâm chiếm đất nước và giết vua. Câu chuyện này gần như giống như câu chuyện về vua Po Rome (1627-1651) và được lưu truyền bởi các cộng đồng Chàm ở miền Trung Việt Nam. Tuy vẫn có những chi tiết khác nhau trong các câu chuyện. Ví dụ, ở bản của Panduranga, cô gái Việt được gọi là Po Bia Ut, ‘ Nữ hoàng Phương Bắc’. Các phiên bản Cam Diaspora thì gọi tên cô là Nai Isah, nai là một từ để gọi một công chúa và Isah, là từ Chàm biến đổi từ từ tên Aishah của tiếng Ả Rập.
Một trong những đặc điểm nổi bật nhất của phả hệ là đề cập đến sự lưu vong của dân tộc Chàm từ Chàmpa sang Campuchia. Khá thú vị, chỉ có một phân đoạn kể lại sự lưu vong của người Chàm ở Campuchia được đề cập trong các phả hệ. Tất cả phiên bản đều đề cập đến Po CIK Kaok, thành viên của gia đình hoàng gia và là Cha của nhà vua Po Rat Talang, lãnh đạo của người Chàm lưu vong. Dưới đây là phần phả hệ đề cập đến sự lưu vong này:

Po Rat Talang có liên quan đến Po CIK Kaok. Po Rat Talang trở thành vua ở Bal Canar, Parik-Panrang, đất nước của người Chàm. Po CIK Kaok đi định cư ở nước
của người Khmer. Ông đến làng Mbaon Sang. Ông ở lại [đó] và gửi
một sứ giả đến Vua Khmer để xin cho dân Chàm đến định cư ở đất nước của người
Khmer. Nhà vua ra lệnh cho AOK-nyua Bimuk Waongsa đến gặp Po CIK Kaok cùng với binh sĩ của mình đưa Po CIK Kaok và toàn dân Chàm và cho họ sống ở các làng Baow Bara-in, Soh Sa-mbuer, Gugaor, Rakabapram ở tỉnh Tambaong Khamum (CM39 [25]: 349).
Đoạn trích này là thú vị khi nó đặt nguồn gốc của Po CIK Kaok là ở công quốc phía Nam của Panduranga. Gia phả cho thấy Vua, Po Rat Talang, thực sự đã trị vì ở Bal Canar. Các học giả cho rằng kinh thành được đặt tại làng Canar hiện nay của người Chàm (tiếng Việt: Tịnh Mỹ). Đó là thủ đô của Chàmpa ít nhất là từ thế kỷ thứ 17. Vì một số lý do, Po CIK Kaok chọn rời bỏ Panduranga để sang Campuchia.
Nơi đầu tiên Po CIK Kaok định cư, Mbaon Sang, vẫn còn rất mơ hồ. Từ Mbaon Sang, sau đó Ông chuyển đến vùng đất được Vua Khmer phong tặng. Có một điều khá thú vị là tất cả những ngôi làng ấy đều ở tỉnh Kompong Chàm ngày nay. Baow Bara-in tương ứng với Po Preah In; Sam-mbuer tương ứng với Sambuor; Gu-gaor tương ứng với Kokor và Rakababram tương ứng với Rokapopram. Về con số người Chàm đi theo Po CIK Kaok, có rất nhiều: một phiên bản của phả hệ có ghi là 15.000, một số khác chỉ 1.500 (M / E07 / 014: 26). Địa danh những nơi mà người Chàm định cư lại không giống nhau: một bản thảo đề cập đến chỉ làng Phum Sawai (M / E07 / 014: 26) hoặc Bhum Sawai (Cam 26:43). Những lý do của sự lưu vong của Po CIK Kaok thì không được giải thích chi tiết, nhưng một phiên bản phả hệ có ghi tóm tắt rằng ông đã quyết định ra đi sau khi một cuộc xung đột với người Việt. Đây là điều cần thiết để người Chàm nhớ phân đoạn này vì đó không chỉ là một minh chứng của việc lưu đày (sự kiện này như chúng ta đã thấy, là trung tâm trong văn thơ Cam Diaspore) đồng thời hợp thức hóa sự hiện diện của họ tại Campuchia. Gia phả nhấn mạnh rằng: Chính Đứa Vua Campuchia đã cắt đất cho những người tị nạn và gửi một quan chức cao cấp và quân đội của mình để hướng họ đến những vùng đất mới của mình. Chuyến lưu vong này là không chỉ có ý nghĩa với người Chàm, mà nó cũng quan trọng đối với lịch sử của người Khmer và người Việt. Đối với người Khmer, đó là lần đầu tiên mà sự xuất hiện ồ ạt của người Chàm được ghi lại. Các gia phả Hoàng gia Khmer ghi lại rằng vào năm 1692-3, 5.000 gia đình Chàm đã được một “thành viên của gia đình hoàng gia” (Khmer: Preah vongsa) mang đến định cư tại Campuchia. Vua Khmer Jayajeṭṭhā III (Ang Sur, 1677-1695) đã cho họ ở tại tỉnh Thbaung Khmum, Stung Trang, Prek Pra và Chhruy Changvar (Mak, 1995: 397-8). Cần nhấn mạnh rằng việc chính thức công nhận và được sự bảo trợ của hoàng gia này khá là quan trọng. Đối với lịch sử Việt Nam, sự lưu vong này quan trọng vì nó đại diện cho một trong những kết quả sự xâm lấn của Việt ở Chàmpa và ý định mạnh mẽ nhằm gõ bỏ sức mạnh trị vị của Vua Chàm khỏi quyền lực của họ. Sự lưu vong này là một biểu hiện trực tiếp về sự từ chối của một số thành viên của tầng lớp cầm quyền và một bộ phận dân cư chấp thuần thẩm quyền của người Việt. Dữ liệu lịch sử người Việt giúp hiểu thêm bối cảnh này. Năm 1692, Vua Chàmpa, Po Saot (1655, 1660-1692), hay Bà Tranh, cố gắng để giành lại những vùng lãnh thổ bị mất vào tay người Việt. Ông đã bị đánh bại bởi quân đội Chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725), đã bị trục xuất, và chết trong tù chưa đầy một năm sau khi bị bắt. Người Việt lúc đó đã nắm Chàmpa và phá đi vương quyền Chàm. Chàmpa sau đó được chuyển thành các quận của Bình Thuận và Việt hoá chính quyền Chàmpa. Sự bùng nổ của các cuộc nổi dậy lớn đã dẫn đến việc Nguyễn Phúc Chu cho khôi phục lại Vương triều Champa và ký hiệp ước với Po Saktiraydaputih, vị vua mới của Chàmpa. Có thể hiểu rằng sự lưu vong này là nền tảng của Cam Diaspora vì nó giúp họ gắn kết quá khứ của họ với vương quốc Chàmpa trước kia và cho phép họ tái khẳng định tính hợp pháp của họ ở Campuchia và các liên kết của họ với Hoàng gia Khmer.

KẾT LUẬN

Các Bản Kể Lại của người Chàm và các Phả hệ Hoàng tộc là những tư liệu cần thiết thiết lập lại những dữ liệu về một lịch sử không được biết đến về một tộc người không ngừng hấp dẫn chúng ta. Những Bản Kể Lại này không chỉ cung cấp thông tin quan trọng về các mối quan hệ chính trị của cộng đồng Chàm với các tầng quyền lực khác nhau ở Campuchia, mà còn ghi lại lịch sử của di cư ở bán đảo Đông Dương và đưa đến một kiến thức vô giá về lịch sử xã hội của người Chàm. Ở quy mô lịch sử rộng hơn, những Bản Kể Lại của người Chàm đã ghi lại cán cân quyền lực trong khu vực Đông Nam Á vào thế kỷ 19.
Phả hệ hoàng gia không thể được sử dụng như tài liệu để tìm lại lịch sử của
Chàm ở Campuchia. Tuy nhiên, chúng có ý nghĩa quan trọng vì đó là một trong số ít các tài liệu mà làm sống lại bộ nhớ về sự thiết lập người Chàm ở Campuchia. Chúng là một nỗ lực để tái tạo lại quá khứ và hợp pháp hóa sự hiện diện của người Chàm ở Campuchia. Bằng cách đặt Cam Diaspora ở một góc độ lịch sử, phả hệ hoàng gia cung cấp cho chúng ta thông tin về cách thức người Chàm xem xét quá khứ của mình và cách họ biến việc lưu đày ở Campuchia không chỉ là vấn đề chấp nhận được mà còn là một sự phát triển logic trong lịch sử của họ.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Nguồn tài liệu sơ cấp
Cam 26, École Française d’Extrême-Orient (Paris) collection.
Cam 27, École Française d’Extrême-Orient (Paris) collection.
CM38(8), Société Asiatiquede Paris collection, 49–89.
CM38(10), Société Asiatiquede Paris collection, 143–58.
CM39(24), Société Asiatique de Paris collection, 324–43.
CM39(25), Société Asiatiquede Paris collection, 348–9.
CM39(36), Société Asiatiquede Paris collection, 475–534.
CM39(37), Société Asiatique de Paris collection, 535–9.
CM39(38), Société Asiatique de Paris collection, 540–6.
Đại Nam Thực Lục, vol. 1, Nhà Xuất Bản Giáo Dục, 2002.
M/E07/014, Kai Mal collection, O Russei, Kompong Chhnang, Cambodia.

Nguồn tài liệu thứ cấp
Aymonier, Etienne and Cabaton, Antoine
1906 Dictionnaire čam-français. Paris: Publications de l’École Française d’Extrême-Orient VII. Khin, Sok
1988 Chroniques Royales du Cambodge (de Bañā Yāt à la prise de Laṅvaek)

—–

Tác giả: Nicolas Weber

Giáo sư Nicolas Weber hoàn tất chương trình Tiến sĩ tại Học viện Quốc gia về Ngôn ngữ và các nền văn minh Phương Đông (INALCO) ở Paris năm 2005. Gs. Weber đã làm việc với Viện Viễn Đông Bác Cổ – EFEO) trong chương trình nghiên cứu “Thế giới Malay – Thế giới Đông Dương”. Ông đã làm việc với Đại học Malaya (Kuala Lumpur) với tư cách là nhà nghiên cứu, giảng viên và giảng viên lâu năm chương trình sau tiến sĩ. Ông hiện đang tham gia vào nghiên cứu về lịch sử chính trị và xã hội của các tộc người thiểu số vùng Đông Nam Á, với hứng thú đặc biệt đến dân tộc Chàm. Những tác phẩm gần đây nhất của ông bao gồm 1 cuốn sách mang tên Lịch sử ly tán người Chàm và hiện vẫn đang làm việc về bản tiếng Anh của quyển sách này. Email: nicolasweb@yahoo.com

The NSC Working Paper Series được xuất bản Các trích dẫn ấn bản điện tử này cần được thực hiện theo  ấn bản điện tử bởi Trung tâm Viện nghiên cứu phương cách sau:
Đông Nam Á Nalanda-Sriwijaya ở Singapore. Nicolas Weber, Exploring Cam Narrative Sources for © Tác giả hay đồng tác giả là sở hửu chủ Nalanda-Sriwijaya Centre Working Paper No 17 (Feb 2015), http://www.iseas.edu.sg/…/docu…/working_papers/nscwps017.pdf

Bản quyền của bài nghiên cứu này. NSC Working Papers không được phép tái bản, hoặc xuất bản lại dưới bất cứ hình thức nào mà không được sự đồng ý bằng văn bản của tác giả hoặc đồng tác giả.
Biên tập NSC WPS:
Andrea Acri Derek Heng Joyce Zaide
Ban biên tập trung tâm Nalanda-Sriwijaya: Andrea Acri Derek Heng và Ten Leu-Jiun Joyce Zaide. Sắp chữ và dàn trang: Andrea Acri and Joyce Zaide. Trung tâm Nalanda-Sriwijaya Centre Working Paper Series được thành lập nhằm tạo một con đường để xuất bản và phổ biến những ấn phẩm nghiên cứu được thực hiện hoặc trình bày trong Trung tâm, và các nghiên cứu có những lĩnh vực liên quan đến vấn đề thắc mắc của Trung tâm.  The Nalanda-Sriwijaya Centre Institute of Southeast Asian Studies 30 Heng Mui Keng Terrace Pasir Panjang, Singapore 119614
TELEPHONE : (+65) 6870 4549 FAX : (+65) 6775 6264
WEB : http://nsc.iseas.edu.sg FACEBOOK :facebook.com/nalandasriwijayacentre

One thought on “Khám phá các nguồn kể lại của người Chàm với lịch sử ly tán của người Chàm ở Cambodia

  1. Pingback: Khám phá các nguồn kể lại của người Chàm với lịch sử ly tán của người Chàm ở Cambodia | CHAM STUDIES | Lu Thi Thanh Le's homepage

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *