[Phản biện sách] Văn hoá Sa Huỳnh với Đông Nam Á (phần 2)

Chamstudies.net xin trân trọng giới thiệu phần tiếp theo về phản biện văn hoá Sa Huỳnh với Đông Nam Á của một nhà nghiên cứu trẻ.

Đổng Thành Danh 

Trung tâm Nghiên Cứu Văn Hoá Chăm tỉnh Ninh Thuận

danh

 

Sách Văn hóa Sa Huỳnh với Đông Nam Á của nhóm tác giả Nguyễn Văn Chừng, Dương Minh Chính, Lê Văn Công, Lê Sơn, Nguyễn Văn Thanh, Lê Quốc Ân, Nguyễn Quốc Chiến được ấn hành bởi nhà xuất bản Hồng Đức (Hà Nội) vào năm 2015. Cuốn sách có 283 trang, ngoài lời giới thiệu (của Pgs. Ts. Phan An thuộc Viện hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam), lời nói đầu của Ts. Lê Sơn (thuộc nhóm tác giả), mục lục và phụ lục thì có 4 chương chính:

  • Chương 1: Những vương quốc hùng mạnh đã từng tồn tại trên dãi đất Việt Nam trong quá khứ.
  • Chương 2: Ba trung tâm văn hóa thời cổ Đông Sơn, Sa Huỳnh, Óc Eo.
  • Chương 3: Người Sa Huỳnh.
  • Chương 4: Nước Việt Thường Thị, nước Lâm Ấp.

Cuốn sách là một công trình chuyên khảo của nhóm tác giả về nền văn hóa Sa Huỳnh và lịch sử miền Trung Trung Bộ trong các thế kỷ đầu thiên niên kỷ I sau Công nguyên. Trong đó, các tác giả tổng hợp các nguồn tư liệu về khảo cổ học, sử học để chứng minh rằng văn hóa Sa Huỳnh nằm trong địa phận nước Việt (trang 9) và lãnh thổ của người Việt cho đến thế kỷ thứ III sau Công nguyên kéo dài đến tận đèo Cả (hoặc núi Thạch Bi) (trang 10 – 11). Tuy nhiên, công trình của nhóm tác giả chứa đựng nhiều hạn chế và sai lệch về mặt học thuật cần được chỉnh sửa và bổ sung, bài viết này sẽ trình bày một số những sai lầm và thiếu sót về khoa học của cuốn sách hầu cung cấp một cách nhìn chân xác về lịch sử.

  1. Tiêu chí của một công trình nghiên cứu khoa học

Xét về tiêu chí của một công trình khoa học mang tính hàn lâm, đủ khả năng đứng vững trước các phản biện khoa học, tôi nhận thấy cuốn sách này vấp phải một số các nhược điểm sau đây:

  • Về bố cục và nội dung của cuốn sách

Như đã nói, cuốn sách có 283 trang, nhưng bố cục phân chia không đồng đều, chương thì quá nhiều (chương 3 có đến 48 trang), chương thì quá ít (chương 4 chỉ có 11 trang), hai chương còn lại (chương 1, 2) mỗi chương có khoảng 20 trang. Thêm vào đó, phần nội dung chính (gồm 4 chương) chỉ có 103 trang (từ trang 27 đến trang 130), nhưng phần phụ lục lại chiếm đến 147 trang (từ trang 131 đến trang 278). Thông thường trong một bài nghiên cứu khoa học nghiêm túc phần phụ lục không thể có số lượng lớn hơn phần nội dung chính của công trình được. Đây chính là nhược điểm lớn nhất của cuốn sách khi so sánh với các công trình khoa học thực thụ.

Về mặt nội dung, cuộc sách này chỉ là một công trình khảo cứu mang tính tổng hợp, tập hợp lại các nguồn tư liệu đã có trước đó về Sa Huỳnh. Trong phần Sa Huỳnh một thế kỷ phát hiện và nghiên cứu (từ trang 15 – 26), nhóm tác giả chỉ tiến hành công tác tổng hợp các quan điểm của một số các học giả, nhà nghiên cứu về Sa Huỳnh như một bài tường thuật về Hội thảo 100 năm phát hiện và nghiên cứu văn hóa Sa Huỳnh chứ chưa đi vào nghiên cứu. Trong chương 1, nhóm tác giả chủ yếu sao chép lại bài viết về Phù Nam – Chân Lạp của Phạm Đức Mạnh (trang 27 – 30) và G. Maspero về Champa (trang 30 – 48).

Riêng phần nội dung chính về Sa Huỳnh được trình bày trong các chương 2 – 3 cũng có vấn đề, cụ thể phần II của chương 2 có mụcNhững tương đồng và dị biệt giữa văn hóa Đông Sơn và Văn hóa Sa Huỳnh (trang 57 – 66) mà nội dung hoàn toàn giống với bài viết của Ts. Dương Văn Sáu trước đó[1]? Tương tự,mục tiếp theo làGiao lưu giữa văn hóa Đông Sơn và Văn hóa Sa Huỳnh (từ trang 66 – 69) cũng có nội dung sao y nguyên bản từ bài viết Giao lưu giữa văn hóa Đông Sơn và văn hóa Sa Huỳnh qua tư liệu khảo cổ học của tác giả Nguyễn Văn Tiến đăng trên trang mạng của Đại học văn hóa[2]. Chương 3 mang tựa Người Sa Huỳnh, chiếm khối lượng lớn trong phần nội dung, tuy nhiên chủ yếu tổng kết lại các kết quả khai quật và nghiên cứu trước đó, chủ yếu trình bày khái quát quá trình phát hiện và nghiên cứu Sa Huỳnh cũng như khảo tả một số di tích Sa Huỳnh ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định (Trung Trung Bộ).

Ở chương 4, các tác giả đề cập đến Việt Thường Thị và Lâm Ấp có 11 trang, là phần tác giả trình bày quan điểm của mình rằng chủ nhân của văn hóa Sa Huỳnh không phải là Champa (trang 120) và biên giới nước ta thời Hai Bà Trưng đến tận núi Thạch Bi (trang 123), nhưng đến một nửa nội dung là trích dẫn và sao lục nguyên văn các công trình của Maspero, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Hán Thư, Nam sử, ngoài ra còn trích dẫn một đoạn ngắn trong Tấn thư (trang 128)… Tuy nhiên, điều đáng nói là ở phần cuối chương lại đặt thêm một phần phụ lục (dịch tư liệu tiếng Hán và tiếng Pháp của B. Boroutte) thay vì đặt ở phần phụ lục lớn ở cuối sách, như vậy cuốn sách có hai phần phụ lục: phụ lục của chương 4 và phụ lục của toàn bộ cuốn sách, chúng tôi chưa hề thấy một cuốn sách nào có phần đặt bố cục kỳ lạ như vậy!

Cònriêng về phần phụ lục (của toàn bộ sách) dù chiếm số lượng nhiều, nhưng đó lại không phải là phần do các tác giả tự nghiên cứu hay phân tích mà chủ yếu lại là phần dịch toàn văn các bài viết của một số các học giả nước ngoài về văn hóa Sa Huỳnh (trừ phụ lục 6 là bài giới thiệu ngắn về bảo tàng Sa huỳnh ở Hội An). Cuối cùng là phần Giới thiệuThư mục tham khảo về văn hóa Sa huỳnh (trang 279 – 282) với 48 danh mục tài liệu, chúng tôi không hề biết các giả nêu danh mục này ra để làm gì vì nhóm tác giả không hề tham khảo hay có một trích dẫn nào đối với hầu hết các bài viết ấy.

  • Về nguồn tư liệu tham khảo và trích dẫn

Cuốn sách viết về nền văn hóa Sa Huỳnh và khảo cổ học miền Trung, nhưng chủ yếu sử dụng các nguồn tư liệu đã cũ của các học giả phương Tây đầu thế kỷ XX Như L. Malleret, L. Colani,H. Parmentier, W. Solheim II, O. Jansé, J. Chidanel… mà không tham khảo hay có một trích dẫn nào với các bài viết, các phát hiện mới về Sa Huỳnh[3]. Trong chương 2 và 3 là chương chủ yếu viết về Sa Huỳnh và khảo cổ miền Trung, nhưng tác giả không hề có một trích dẫn các sách, tạp chí hay các công trình nghiên cứu khoa học kể trên, mà chủ yếu sao lại một số bài viết của Colani, Malleret (trang 82), của nhóm tác giả Phan Xuân Biên, Phan An, Phan Văn Dốp (trang 115 – 118),còn lại hầu hết đều viết chay, không thấy có trích dẫn nguồn nào.

Ngoài Sa Huỳnh và khảo cổ học miền Trung các tác giả còn giành sự quan tâm đến chủ đề vương quốc Lâm Ấp và Champa (chương 1 và chương 4), chính vì thế các tác giả chủ yếu sử dụng các nguồn tài liệu sơ cấp như Hán Thư, Tấn Thư, Nam sử, Đại Việt Sử Ký Toàn thư, thứ cấp như Le RoyaumeChampa của G. Maspero, Essaid’Histoire des Populations Mongtagnardes du Sud-Indochinois của B. Bourotte, Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim. Tuy nhiên, đây chỉ là mục danh mục tài liệu rất hạn chế và chứa đựng nhiều sai sót về Lâm Ấp và Champa mà các tác giả sử dụng làm nguồn tham khảo.

Xét về các nguồn tài liệu sơ cấp là Hán Thư, Nam sử và Đại Việt Sử ký Toàn thư, Tấn thư ta thấy đây chỉ là một vài trong số rất nhiều sử liệu cổ mà nội dung liên quan đến Lâm Ấp – Champa, bản thân nội dung hay tính xác thực của các nguồn tư liệu sơ cấp (của Trung Hoa và Đại Việt) luôn cần phải cân nhắc kỹ lưỡng, chính bản thân các tác giả của cuốn sách này cũng thừa nhận điều đó: “Tuy nhiên, nên biết là các tư liệu cổ sử đều thiếu các tư liệu xác thực và thường ghi chép rất khái lược, có khi thiếu mạch lạc” (trang 119). Như vậy, thay vì sử dụng thêm nhiều tư liệu sơ cấp khác của cổ sử Trung Hoa như Thủy Kinh Chú, Hải Ngoại ký sự, Tống Thư, Nam Tề Thư, Lương Thư, Trần thư, Tùy Thư, Cựu Đường Thư, Tân Đường thư[4]… hay các cổ sử Việt như Việt sử lược, Lĩnh Nam chích quái,…. để cùng đối chiếu, so sánh nhận diện đúng bản chất lịch sử thì các tác giả chỉ sử dụng bốn văn bản trên để chứng minh cho các luận điểm của mình.

Đối với các nguồn tư liệu thứ cấp, nhóm tác giả này lại sử dụng các nguồn tư liệu ít ỏi, bản thân các công trình đó lại rất cũ, chứa đựng nhiều sai lệch và thiếu sót về Lâm Ấp và Champa, nhất là cuốn sách về Champa của Maspero đã được L. Aurousseau và L. Finot phê bình[5]. Mặt khác từ sau công trình của Maspero, nhiều công trình khác đã ra đời cũng giành sự quan tâm đến chủ đề này với nhiều nội dung và quan điểm mới, như các cuốn sách của R. Stein, G. Coedes. Po Dharma, Lafont[6], chưa kể đến hàng trăm công trình, bài viết nghiên cứu về Champa khác… Trong cuốn sách mà chúng tôi đang phản biện, tên tuổi và tác phẩm của các nhà nghiên cứu ở trên hầu như không được nhắc đến, điều đó cho thấy, các tác giả không cập nhật các nghiên cứu mới nhất về lịch sử Lâm Ấp và Champa trong mấy chục năm gần đây, từ đó tác giả sử dụng các quan điểm rất lạc hậu của Maspero, Bourotte hầu chứng minh các lập luận của mình.

  • Tiểu kết

Từ việc phân chia bố cục không đồng đều, phi khoa học, nội dung mang tính tường thuật, khái quát, chủ yếu tổng hợp, sao chép các tư liệu, bài viết đi trước cho đến cách thức sử dụng và trích dẫn các nguồn tư liệu một cách thiếu chuyên môn, nhiều chương (như chương 2, 3) không hề có tư liệu tham khảo, phần lớn viết chay, nhiều chương có trích dẫn nhưng sử dụng ít nguồn tư liệu, trong đó nhiều tư liệu đã lỗi thời, hàm chứa nhiều sai sót về học thuật, mà không hề có sự phân tích, đánh giá. Chính vì vậy, tôi cho rằng, cuốn sách Văn hóa Sa Huỳnh với Đông Nam Á không thể được xem là một tác phẩm khoa học nghiêm túc, càng không thể được sử dụng để làm nguồn tham khảo cho các nghiên cứu sau này.

  1. Các quan điểm và nhận định của nhóm tác giả

Dù không thể hội đủ các tiêu chuẩn cơ bản của một tác phẩm nghiên cứu khoa học, từ cách phân chia bố cục, nội dung cho đến cách sử dụng và trích dẫn nguồn tài liệu, nhưng các tác giả của cuốn sách vẫn đưa ra nhiều quan điểm về khảo cổ và lịch sử Sa Huỳnh, Champa và Trung Trung bộ. Cho nên, chắc hẳn rằng các quan điểm và nhận định của các tác giả đưa ra sẽ có nhiều thiên kiến, chủ quan thậm chí thiếu tính đúng đắn về khoa học, gây hậu quả tiêu cực cho nhận thức lịch sử trong tương lai. Trong phần này tôi sẽ phản bác và đính chính một số quan điểm ý kiến như vậy trong cuốn sách.

Như đã nói, ngay từ lời nói đầu các tác giả muốn chứng minh rằng: “Vào thời Hai Bà Trưng, địa giới phía Nam nước ta… là núi Thạch Bi, ranh giới hai tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa ngày nay” và “Sa Huỳnh nằm trong địa phận nước ta trước khi bị quân Chàm xâm chiếm” (trang 9). Nhóm tác giả chủ yếu giành chương 1 (phần về Champa) và chương 4 để chứng minh cho luận điểm trên của mình, chính vì vậy phản biện của chúng tôi sẽ chủ yếu phân tích hai chương này. Trước hết để chứng minh quan điểm của mình các tác giả tiến hành các bước: 1. Xác định chủ nhân, phạm vi của văn hóa Sa huỳnh; 2. Xác định ranh giới Việt cổ và Champa cổ (Lâm Ấp) dưới thời Hai Bà Trưng (tức thế kỷ I SCN).

  • Chủ nhân và phạm vi (không – thời gian) của văn hóa Sa Huỳnh

Để chứng minh cho quan điểm thứ nhất nhóm tác giả giành nhiều quan tâm đến nền văn hóa Sa Huỳnh, một nền văn hóa thời tiền nhà nước (tiền sử, sơ sử) ở miền Trung Việt Nam. Theo đó, các tác giả tìm lập luận chứng minh rằng chủ nhân của nền văn hóa Sa huỳnh ở Trung Trung Bộ (từ Quảng Nam đến Phú Yên) là người Việt, chứ không phải là người tiền Champa (những người đã lập nên nhà nước Champa sau này). Tức là họ cũng đồng thời phủ nhận sự chuyển biến liên tục từ Tiền Sa huỳnh – Sa Huỳnh – tiền Champa (Lâm Ấp và các chính thể tương đương) – Champa đã được nhiều nhà khảo cổ thừa nhận.

Quan điểm này được thể hiện ở các câu văn sau:

“… Miền Trung Trung Bộ, từ đèo Cả đến đèo Hải Vân không hề là đất bản địa của dân tộc Chàm như nhiều người lầm tưởng.

Chính ngành khảo cổ đã khẳng định điều đó.

Tác giả John G. Chidainel trong bài viết “một số đồ gốm Sa Huỳnh và những mối liên quan với các di chỉ khảo cổ khác ở Đông Nam Á cho rằng:

‘Nền văn hóa này không chia sẽ những ảnh hưởng của Trung Quốc và Ấn Độ, thường thấy tại bản đảo Ấn Trung vào thời đầu của kỷ nguyên Kitôgiáo. Mặc dù không xác định được những mối liên hệ bản chất giữa người Sa Huỳnh với người Chàm nguyên thủy nhưng những phương thức chôn cất của họ hướng tới một điểm sẽ kết nối với những người chủ của mộ cự thạch Thượng Lào’.(Xem Phụ lục 5)

Nhà khảo cổ trứ danh thế giới, làm Trưởng Ban Khảo cổ của Viện Viễn Đông Bác Cổ, ngài Henri Parmentier trong bài viết “Những hố chum ở Sa Huỳnh”, Parmentier nhấn mạnh:

‘Qua các di vật tìm được ở Sa Huỳnh thiếu tất cả các chứng tích về nền văn minh Chàm’ và

‘Sự độc lập hoàn toàn của các trang trí với nghệ thuật xa xưa, xưa hơn nghệ thuật Chàm, không cho phép gắn các hố khảo cổ này với người Chàm’”(trang 10).

Ở chương 4, các tác giả cũng viết:

“…Ngày nay dưới ánh sáng của Khảo cổ học đang phát triển thì những năm vào thế kỷ III trước CN cho biết vùng này đã hình thành một loại nhà nước sơ khai. Nhà nước ấy nhất định không phải là tổ tiên của người Champa, vì theo Parmentier thì:

‘Qua các di vật tìm được ở Sa Huỳnh thiếu tất cả các chứng tích về nền văn minh Chàm’ và ‘Sự độc lập hoàn toàn của các trang trí với nghệ thuật xa xưa, xưa hơn nghệ thuật Chàm, không cho phép gắn các hố khảo cổ này với người Chàm’…” (Trang 120).

Chỉ có ngần ấy tư liệu, chỉ viện dẫn hai nhà nghiên cứu phương Tây (chưa tính là lập lại hai lần bài viết của Parmentier) nhưng tác giả muôn phủ nhận người tiền Champa là chủ nhân của nền văn hóa Sa Huỳnh.Như chúng tôi đã đề cập, những nghiên cứu của J. Chidainel và H. Parmentier là những nghiên cứu rất xưa, trong thời điểm mà các phát hiện về Sa Huỳnh vẫn còn ở giai đoạn đầu tiên, hàng chục năm sau khi các bài viết này ra đời, nhiều phát hiện mới về Sa Huỳnh cũng xuất hiện, thay đổi nhiều nhận thức về nền văn hóa ấy, và từng ấy thời gian nhiều bài viết, công trình nghiên cứu mới đã ra đời. Tuy nhiên, nhóm tác giả dường như không cập nhật chúng, đây là lỗi nghiêm trọng nhất của một công trình khoa học.

Trong thực tế, những phát hiện mới đã làm thay đổi các nhận thức cơ bản về chủ nhân và phạm vi của văn hóa Sa huỳnh của các học giả phương Tây trước đây. Theo các nghiên cứu mới, chủ nhân của văn hóa Sa Huỳnh chính là người bản địa,chính họ đã đóng góp vào sự chuyển biến từ Sa Huỳnh sang giai đoạn hình thành các nhà nước sơ khai ở miền Trung như Lâm Ấp và sau này là Champa, phạm vi của nền văn hóa này không chỉ bó hẹp ở Trung Trung Bộ (Quảng Nam đến Phú Yên) mà còn đến tận Nam Trung Bộ (Khánh Hòa đến Bình Thuận)[7]. Quá trình chuyển biến từ Sa Huỳnh – Lâm Ấp – Champa là một quá trình liên tục, chủ yếu chuyển biến từ tác động nội sinh hơn là các tác nhân cơ học bên ngoài, tức từ Sa huỳnh sang tiền Champa không hề có sự can thiệp từ bên ngoài, do đó chủ nhân của văn hóa Sa Huỳnh là những người tiền Champa[8].

  • Ranh giới và địa giới của hai nước Việt cổ và Champa đầu công nguyên.

Một khi đã phủ nhận vai trò hậu duệ của người Champa đối với nên văn hóa cổ Sa Huỳnh, nhất là ở miền Trung Trung Bộ (mà theo các tác giả là từ Quảng Nam đến Phú Yên),các tác giả tìm cách chứng minh lãnh thổ của người Việt, trước thế kỷ II – III SCN, kéo dài đến núi Thạch Bi, trong khi nước Champa được hình thành ở phía Nam Thạch Bi, chỉ từ sau khi lập quốc họ mới mở rộng cương vực lên phía Bắc đến dãy Hoành Sơn (Quảng Bình) và xác lập cương vực hai nước ở đó cho đến khi nhà nước Đại Cồ Việt hình thành (thế kỷ X). Quan điểm này của các tác giả được thể hiện rõ nhất qua các đoạn sau:

  • “…Vào thời Hai Bà Trưng, địa giới phía Nam nước ta ở đâu? Trước đây chưa ai xác định được. Chúng tôi nghiên cứu tư liệu chữ Hán cổ và tiếng Pháp, đã chứng minh ranh giới ấy là núi Thạch Bi, ranh giới của hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa ngày nay…” (trang 9).
  • “…Xác định núi Thạch Bi là ranh giới phía Nam nước ta thời Hai Bà Trưng là một đóng góp mới. khảo cổ học củng cố cho phát hiện ấy…” (trang 11).
  • Qua bia ký đã khai quật có thể xác định kinh đô thời lập quốc của nhà nước Champa, vào thế kỷ thứ II là vùng đất Kauthara (Khánh Hòa ngày nay), cho thấy nơi hình thành vương quốc Chàm là Nam Trung Bộ.

Từ địa bàn ban đầu Nam Trung Bộ, quân Champa đã từng bành trướng về phía Nam và phía Tây… Thế là họ dồn sức mở rộng về phía Bắc nơi người Việt đang bị đế quốc Hán thống trị….

….  Đến đầu thế thứ III CN thì quân Chàm đã chiếm hết miền Trung Trung Bộ… phải đến đời Lê Thánh Tông, quân ta mới đẩy lùi hết quân Chàm, khôi phục hoàn toàn đất nước phía Nam tức là miền Trung Trung Bộ…” (trang 31 – 32).

  • “…Chúng tôi khẳng định rằng, nước ta thời Hai Bà Trưng rất khác với những gì mà sử Tàu và sử Ta đã viết. Nước ta thời ấy, …, bao gồm miền đất từ Quảng Tây, Trung Quốc đến núi Thạch Bi, ranh giới hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa hiện nay…” (trang 123).
  • “…Bia ký cũng chứng minh địa bàn hình thành vương quốc Chàm ở miền Nam Trung Bộ… Do đó có thể xác định kinh đô thời lập quốc của nhà nước Chàm, vào cuối thế kỷ thứ II là tại miền đất Nam Trung Bộ ngày nay.

Từ địa bàn ban đầu là Nam Trung Bộ, phía Nam núi Thạch Bi, nước Chàm đã từng bước bành trướng về mọi hướng…” (trang 127).

Như vậy, xuyên suốt cuốn sách (từ lời mở đầu, chương 1, chương 4) nhóm tác giả đã thể hiện rất rõ quan điểm của mình (mà chúng tôi đã nêu ở trên). Để chứng minh cho các lập luận này tác giả đã thực hiện hai công việc: 1. Chứng minh ranh giới Việt – Champa, trước thế kỷ II – III SCN, là núi Thạch Bị (ranh giới Phú Yên và Khánh Hòa ngày nay); 2. Chứng minh lãnh thổ gốc hình thành nhà nước Champa là Nam Trung Bộ, sau đó họ mới tấn công ra Trung và Bắc Trung Bộ, nơi mà các tác giả cho rằng chính là lãnh thổ của người Việt nhưng đang bị Trung Hoa đô hộ. Dưới đây, chúng tôi sẽ tiến hành phản biện hai lập luận này của nhóm tác giả.

Đối với quan điểm thứ nhất (mà các tác giả nêu ra ở các trang 9, 11, 123, 130), chúng tôi nhận thấy tác giả không hề khảo cứu một nguồn nào đáng tin cậy về mặt khoa học, nhất là các tư liệu về địa dư. Trong cuốn sách, dù các tác giả lập luôn khẳng định ranh giới phía Nam của nước Việt từ thời Hai Bà Trưng là núi Thạch Bi, nhưng trong thực tế bản thân các nguồn tư liệu, kể cả các tư liệu mà nhóm tác giả dẫn ra (kể cả Hán Thư, Đại Việt Sử ký toàn thư, kể cả khảo cổ), cũng không hề nói gì về điều đó. Điều đó cho phép chúng ta nghi ngờ mọi khẳng định của các tác giả, nếu như không muốn nói là chúng chẳng có giá trị vì các tác giả chỉ viết suông.

Tuy nhiên về vấn đề địa giới thời Bắc thuộc, có rất nhiều tư liệu cổ nói đến điều này, trên cơ sở ấy công trình biên khảo chuyên sâu về địa lý của học giảĐào Duy Anh đã ra đời. Theo ông, lãnh thổ cực Nam của trung Hoa thời Hai Bà Trưng (Hán) bao gồm 3 quận: Giao Chỉ và Cửu Chân là lãnh thổ Âu Lạc xưa (tiền Bắc thuộc), còn phía Nam là quận Nhật Nam, cực Nam của quận Nhật Nam chính là nơi hình thành nhà nước Lâm Ấp (thế kỷ thứ II) ranh giới phía Nam của quận ấy chính là đèo Hải Vân[9]. Thay vì tham khảo và phản biện công trình của Đào Duy Anh, các tác giả lại đưa ra một quan điểm về địa dư hoàn toàn khác biệt mà không hề dẫn một nguồn tư liệu nào hay có một thẩm định chuyên sâu về nguồn ấy.

Không đủ căn cứ khoa học nghiêm túc để chứng minh Thạch Bi là biên giới cực Nam của nước Việt thời kỳ Hai Bà Trưng, thì chúng ta cũng có quyền nghi ngờ quan điểm quan điểm thứ hai cho rằng người Champa ban đầu lập quốc ở phía Nam Thạch Bi sau đó Bắc tiến mở rộng lãnh thổ của mình đến tận Hoành Sơn (mà các tác giả đã lập đi lập lại ở các trang, 31, 32, 127). Khác với quan điểm thứ nhất, ở quan điểm thứ hai tác giả có dẫn chứng nguồn tư liệu về bia ký của Champa, theo các tác giả bia ký Võ Cạnh ở Kauthara (Nha Trang) cho thấy người Champa đặt Kinh Đô và lập quốc ở phía Nam núi Thạch Bi (trang 127). Tuy nhiên, việc dẫn chứng tư liệu này càng cho thấy các tác giả không hề là những người hiểu biết chuyên sâu về lịch sử Champa cũng như không cập nhật các nghiên cứu mới về Champa học.

Cho đến hôm nay, giới khoa học đều thừa nhận rằng, tiền thân của vương quốc Champa ở miền Trung Việt Nam (mà thời kỳ cực thịnh có cương vực kéo dài từ Hoành Sơn đến Bình Thuận[10])chính là nhà nước Lâm Ấp (Lin-Yi), một nhà nước độc lập (khỏi Trung Hoa) từ cuối thế kỷ năm 192, có lãnh thổ thuộc huyện Tượng Lâm, huyện cực Nam của quận Nhật Nam (tương đương với Thừa Thiên Huếvà một phần của vùng phía Nam đèo Hải Vân, tức là tỉnh Quảng Nam hiện nay)[11]. Sau khi giành độc lập từ Trung Quốc quốc gia này không ngừng mở rộng lãnh thổ về phía Bắc kéo biên giới đến dãy Hoành Sơn và xâm chiếm các tiểu quốc ở phía Nam đến tận Bình Thuận[12], chứ không hề có một quốc gia Champa nào bành trướng theo hướng ngược lại (từ Nam Thạch Bi ra Bắc Hoành Sơn), như các tác giả lập luận.

Thế thì chúng tôi không hiểu rằng tại sao , các tác giả của cuốn sách, lại bỏ qua một nguồn tư liệu phong phú, để rồi tự đưa ra các suy đoán không có căn cứ như vậy? Có chăng tác giả chỉ dựa vào quan điểm của B. Bourotte (được lập lại hai lần ở trang 31 và 127) rằng: “…Ở phía Nam, vào năm 192 CN, nhà nước Champa hình thành trong vùng các tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận…”. Thật ra, Bourotte, và cả nhóm tác giả cuốn sách, đã đi theo “lối mòn” của G. Maspero trước đó, người đã đánh đồng giữa chính thể Lâm Ấp (Huế, Quảng Nam) với vị vua tự xưng là hậu duệ của Sri Mara (Phù Nam) chủ nhân của tấm bia ký Võ Cạnh ở Khánh Hòa[13]. Quan điểm này của Maspero đã vấp phải sự phản ứng của các nhà nghiên cứu sau đó như L. Finot[14], J. Boisselier[15] cho nên đó là một quan điểm không thuyết phục cho lắm.

  • Một số vấn đề khác

Chúng tôi đã giành trọn vẹn hai phần trên để phản bác các quan điểm, nhận định chủ đạo mà nhóm tác giả đưa ra và tìm cách chứng minh trong suốt cuốn sách Văn hóa Sa Huỳnh với Đông Nam Á. Ngoài ra, chúng tôi còn nhận thấy một số các chi tiết sai lầm về sự kiện, niên đại lịch sử cần được đính chính trong cuốn sách giúp mọi người có cách đánh giá thận trọng hơn khi muốn tham khảo cuốn sách và có cái nhìn đúng đắn hơn về các vấn đề liên quan đến nền văn hóa Sa Huỳnh và lịch sử vương quốc Champa cổ ở miền Trung Việt Nam.

Ở trang 38, các tác giả cho rằng đạo Islam du nhập vào Champa từ thế kỷ XI, và nhấn mạnh là vào khoảng năm 1025 – 1035, có thể quan điểm này được các tác giả đưa ra khi tham khảo G. Maspero vì sau đó các tác giả có dẫn đoạn Maspero cho rằng một số tín đồ Islam đã đến Champa từ thế kỷ X. Tuy nhiên, gần đây các nhà khoa học đều cho rằng Islam chỉ du nhập chính thức vào Champa từ thế kỷ thứ XVI[16] chứ không phải thế kỷ XI như các tác giả suy đoán theo chi tiết của Maspero.

Ở trang 40,128 – 139, nhóm tác giả dẫn lại hai lần chi tiết của Tấn Thư cho rằng Lâm Ấp lập quốc khoảng năm 270 CN (trang 128), sau đó tác giả ghi: “Như vậy Lâm Ấp dần chuyển thành nước, tức trước đó không phải là Champa, rồi bị nước Champa đồng hóa… Sau đó không lâu, nước Lâm Ấp bị vương quốc Chàm thôn tính…” (trang 129). Đọc qua đoạn này ta thấy có vấn đề, nước Lâm Ấp theo Tấn Thư thành lập khoảng năm 270, trong khi phần dịch Tấn thư (của Lương Ninh) không hề nói đến niên đại này[17], vậy các tác giả dẫn tư liệu này từ đâu, vì sách không chú rõ nguồn?Thay vào đó, ai cũng biết chính các tư liệu cổ sử Trung hoa cho phép các nhà khoa học xác định niên đại thành lập chính xác của nước Lâm Ấp là năm 192 CN[18]. Mặc khác, các tác giả lại sai lầm, vì cũng theo các tư liệu vừa dẫn Lâm Ấp phát triển và chuyển hóa thành Champa chứ không hề bị nước Champa thôn tính như các tác giả tự phỏng đoán[19].

Ở trang 130, nhóm tác giả cho rằng biên giới phía Nam Việt Nam, sau khi Mã Viện dẹp xong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng (Thế kỷ I SCN) là ở núi Thạch Bi, vì theo các tác giả địa danh núi Đồng Trụ (biên giới cực Nam của Giao Chỉ) thời Mã Viện chính là núi Thạch Bi thời Lê Thánh Tông. Tuy nhiên, câu truyện về đồng trụ thời Mã Viện chỉ là truyền thuyết, không ai có thể khẳng định đồng trụ ở đâu và nó có thật hay không[20]? Thêm vào đó, biên giới Đại Việt thời vua Lê Thánh Tông là núi Thạch Bi hay sự kiện ông đến có đến núi Thạch Bi cũng chỉ là truyền thuyết không ai có thể chứng minh[21]. Do đó, quan điểm này của các tác giả là chưa có căn cứ xác thực, cần phải đặt nghi vấn!

Cuối cùng nhưng quan trọng nhất, một vấn đề sai sót mà tác giả luôn vấp phải chính là vấn đề phân biệt giữa Chàm (hay Chăm) với Champa hay phân biệt giữa vương quốc Chàm (hay Chăm) với vương quốc Champa. Trong cuốn sách, nhiều khi tác giả viết người Chàm, quân Chàm, chính quyền Chàm, nhà nước Chàm và vương quốc Chàm (trang 30, 32, 34, 37, 38, 39, 41, 119, 126 – 129…) đôi khi lại viết người Champa, quân Champa, vương quốc Champa. Như vậy, các tác giả đã vấp phải một sai lầm là đánh đồng Chàm (hay Chăm) với Champa, trong khi đây là hai thuật ngữ có nội hàm hoàn toàn khác nhau. Các nhà khoa học đã chứng minh Chàm (hay Chăm) là tên gọi của một dân tộc cấu thành nên vương quốc Champa, còn Champa là tên Phạn ngữ của một vương quốc bao gồm nhiều sắc dân trong đó có người Chăm[22]. Như vậy chỉ có người Chăm (mà các tác giả gọi là người Chàm) chứ không hề có chính quyền, vương quốc của người Chàm vì  Champa là vương quốc đa dân tộc, chứ không chỉ của người Chăm[23].

  • Tiểu kết

Chúng tôi vừa đính chính lại một số các quan điểm và nhận địnhcủa tác giả về một số vấn đề như chủ thể và phạm vi của văn hóa Sa Huỳnh, quá trình chuyển biến từ Sa huỳnh sang Champa, địa giới của vị trí hình thành và chuyển biến của miền Trung từ thời Lâm Ấp đến Champa…. Qua đây chúng tôi muốn tái khẳng định rằng chủ nhân của văn hóa Sa Huỳnh là người bản địa miền Trung, chính họ đã lập nên các nhà nước tiền Champa trong đó có Lâm Ấp một quốc gia giành độc lập từ Trung Hoa vào năm 192. Cũng chính Lâm Ấp là quốc gia có vai trò chủ đạo trong việc tập hợp các tiểu quốc phía Nam thành một thực thể liên bang mà sau này là nhà nước Champa, một quốc gia đã đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành quốc gia Việt Nam thống nhất.

  1. Kết luận

Một tác phẩm khoa học phải luôn được đánh giá một cách nghiêm túc về hình thức lẫn nội dung, tác phẩm có giá trị thật sự là một tác phẩm đạt được đầy đủ các tiêu chí về mặt học thuật, các quan điểm và nhận định trong tác phẩm phải dựa trên những căn cứ xác đáng lấy các suy luận logic và các nguồn tư liệu đáng tin cậy làm nền tảng. Một tác phẩm không hội đủ điều này, tất yếu sẽ vấp phải những phản ứng từ giới nghiên cứu, phản biện trong khoa học là một thao tác cực kỳ cần thiết, tất nhiên một phản biện có giá trị cũng phải dựa trên các tiêu chí nghiêm ngặt về khoa học, những lập luận phê bình, bác bỏ đều phải dựa trên các nguồn căn cứ có cơ sở, đủ sức đứng vững trước những phản biện trong tương lai.

Là một công trình khoa học, nhưng cuốn sách Văn hóa Sa Huỳnh với Đông Nam Á không hội đủ các tiêu chí của một công trình khoa học nghiêm túc từ hình thức đến lẫn nội dung. Riêng về nội dung, các tác giả chỉ dừng lại ở tổng hợp, sao chép, những quan điểm, nhận thức mới về Sa Huỳnh và Champa mà các tác giả đưa ra hoàn toàn là suy đoán, không có căn cứ, các tác giả chỉ sử dụng một nguồn tư liệu ít ỏi, lỗi thời và chứa nhiều sai lệch, trong tinh thần đó đọc giả khó mà có thể đặt lòng tin vào giá trị khoa học của các quan điểm và nhận định từ nhóm tác giả.  Và sự thật, bằng các thao tác phản biện khoa học chúng tôi đã tiến hành phản biện các quan điểm và ý kiến mà các tác giả đưa ra trong cuốn sách, hy vọng các tác giả sẽ tiếp thu và chỉnh sửa. Đối với qúy đọc giả chúng tôi xin lưu ý rằng nên thận trọng và luôn đặt nghi vấn với các luận điểm trong cuốn sách này, riêng với các nhà nghiên cứu, muốn sử dụng nguồn tư liệu này như là một nguồn tham khảo thì cần phải đính chính lại các sai sót khi sử dụng nó trong tương lai.

 

 

 

 

 

 

 

 

[1]Xem link tải: http://huc.edu.vn/vi/spct/id131/NHUNG-KHAC-BIET-GIUA-VAN-HOA-DONG-SON-VA-VAN-HOA-SA-HUYNH-O-VIET-NAM/

[2] http://huc.edu.vn/vi/spct/id181/GIAO-LUU-VAN-HOA-DONG-SON-VA-VAN-HOA-SA-HUYNH–QUA-TU-LIEU-KHAO-CO-HOC/

[3]Về các nghiên cứu mới nhất về văn hóa Sa Huỳnh xem thêm: AndreasReinecke, Nguyễn Chiều, Lâm Thị Mỹ Dung 2002. Những phát hiện mới về văn hoá Sa Huỳnh. NxbLindenSoft 1; Nguyễn Lân Cường 2007. Người Sa Huỳnh. Bài viết trong Hội thảo Đề tài cấp Bộ “Giao lưu và hội nhập văn hoá trong thời đại Sắt sớm ở miền Trung Việt Nam”. Tư liệu Viện Khảo cổ học;Lâm Thị Mỹ Dung 2005. Một số vấn đề khảo cổ học ven biển miền trung Việt Nam giai đoạn chuyển tiếp từ văn hóa Sa Huỳnh sang văn hóa Champa. Đề tài cấp ĐHQG. Tư liệu Bảo tàng Nhân học; Lâm Thị Mỹ Dung 2008. Nghiên cứu quá trình chuyển biến từ sơ sử sang lịch sử sớm ở miền Trung Trung Bộ và Nam Trung Bộ Việt Nam. Đề tài khoa học trọng điểm của ĐH Quốc gia Hà Nội. Tư liệu Bảo tàng Nhân học; Nguyễn Giang Hải 1992. Mộ chum Sa Huỳnh ngoài văn hoá Sa Huỳnh. Trong NPHMVKCH 1991. Viện KHXHVN, Hà Nội: 93-94; Nguyễn Thị Hảo, Hoàng Thuý Quỳnh 2008. Mộ đất văn hoá Sa Huỳnh. Bài viết trong Hội thảo NPHMVKCH 2008; Vũ Quốc Hiền 1999. Các con đường hình thành văn hóa Sa Huỳnh. Trong Hội thảo 90 năm phát hiện và nghiên cứu văn hóa Sa Huỳnh; Đoàn Ngọc Khôi 1999. Văn hóa Sa Huỳnh dưới góc nhìn văn hóa biển. Trong Hội thảo khoa học 90 năm phát hiện và nghiên cứu văn hóa Sa Huỳnh; Đoàn Ngọc Khôi 2004. Vai trò của các đảo ven bờ và vùng duyên hải trong nghiên cứu văn hóa Sa Huỳnh ở miền Trung Việt Nam. Trong Một thế kỷ Khảo cổ học Việt Nam (tập I). NXB KHXH, Hà Nội: 771- 792; Phạm Thị Ninh 2008. Giao lưu và hội nhập văn hóa giai đoạn Sắt sớm ở miền Trung Việt Nam. Đề tài khoa học cấp bộ. Tư liệu Viện khảo cổ học; Ngô Thế Phong 1997. Văn hoá Sa Huỳnh trong khung cảnh Đông Nam Á. Khảo cổ học, số 4: 45- 57; Ngô Thế Phong 1999. Tư liệu về Sa Huỳnh và một vài tham góp về mối quan hệ của văn hóa Sa Huỳnh. Trong Hội thảo khoa học 90 năm phát hiện và nghiên cứu văn hóa Sa Huỳnh; Trịnh Sinh 1999. Mối quan hệ phía Bắc và phía Nam của văn hóa Sa Huỳnh. Trong Hội thảo khoa học: 90 năm phát hiện và nghiên cứu văn hóa Sa Huỳnh; Chử Văn Tần 2004. Văn hóa Sa Huỳnh- nhìn lại mười thập kỷ phát hiện và nghiên cứu. Trong Một thế kỷ khảo cổ học Việt Nam (tập I). Nxb KHXH, Hà Nội: 727- 739.v.v..

[4] Về bản dịch các tác phẩm này có thể tham khảo: Lương Ninh 2006, Vương quốc Champa, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 349 – 391.

[5]L. Aurousseau 1914, « Compte – Rendu de G. Maspero : Le Royaume de Champa (1910) », BEFEO 14 – 9, pp. 8 – 43 ; L. Finot 1928,« Compte – Rendu de G. Maspero : Le Royaume de Champa (1928) », BEFEO 28, pp. 285 – 292.

[6]R. Stein 1947, Le Linyi Sa localisation, sa contribution à laformation du Champaetsesliensavec la Chine. HanHiue, Pékin; G. Coedes1964, LesEtatsHindouisésd’Indochineetd’Indonésie.Paris ; Dohamine – Dorohiem 1965, Dân tộc Chàm lược sử, Saigon ; Po Dharma 1987, Le Panduranga – Campa (1802 – 1835), EFEO, Paris (bản dịch tiếng Việt mang tựa đề :Vương quốc Champa : lịch sử 33 năm cuối cùng, IOC – Champa, San Jose, 2012); Lafont 2011, Vương quốc Champa : địa dư – dân cư – lịch sử, IOC – Champa, San Jose.

[7]Trần Quốc Vượng (Chủ biên) 1985, Những di tích thời tiền sử và sơ sử ở Quảng Nam –  Đà Nẵng, Nxb. Đà Nẵng; Vũ Công Qúy 1991, Văn hóa Sa Huỳnh, Nxb. Văn hóa Dân tộc, Hà Nội; Phan Xuân Biên – Phan An – Phan Văn Dốp 1991, Văn hóa Chăm, Nxb. Khoa học Xã Hội, Hà Nội, tr. 13 – 52 ; Ngô Văn Doanh 2002, Văn hóa cổ Champa, Nxb. Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, tr. 47, 52 ; Trần Quốc Vượng (Chủ biên) 2006, Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, tr. 125 – 128; Lương Ninh 2006, sđd, tr. 10.

[8]Lâm Thị Mỹ Dung 2008, Nghiên cứu quá trình chuyển biến từ sơ sử sang sơ kỳ lịch sử ở miền Trung Trung bộ và Nam Trung bộ Việt Nam, Đề tài NCKH trọng điểm, ĐHQG, mã số QGTĐ.06.07, 2008, Tư liệu khoa Lịch sử và Tư liệu Bảo tàng Nhân học, trường ĐHKHXH & NV, Hà Nội; Lâm Thị Mỹ Dung 2009, Sa Huynh RegionalandInter-RegionalInteractions in the Thu Bon Valley, Quang Nam Province, CentralVietnam, Bulletinof the Indo-PacificPrehistoryAssociation 29, tr. 68-75.  Xem thêm :Lâm Thị Mỹ Dung 2013, Vai trò của yếu tố nội sinh và ngoại sinh trong sự hình thành nhà nước sớm ở miền Trung Việt Nam (http://khoalichsu.edu.vn/bai-nghien-cu/479-vai-tro-ca-yu-t-ni-sinh-va-ngoi-sinh-trong-s-hinh-thanh-nha-nc-sm-min-trung-vit-nam-pgsts-lam-th-m-dung).

[9]Đào Duy Anh 2012, Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb. Thuận Hóa, Huế, tr. 91, 101 – 102 ; Xem thêm : Phạm Văn Sơn 1960, Việt sử toàn thư, Tủ sách Sử học, Saigon, tr. 77; Phan Khoang 1970, Việt sử Xứ Đàng Trong, Khai Trí, Saigon, tr. 16 – 17.

[10]Về địa dư của Champa trong lịch sử xem: T. Quach – Langlet 1988, «  Le carde historique de l’ancien Campa », Actes du séminaire sur le Campa organiséà l’Université de Copenhague (1987), CHCPI, Paris, pp. 27 – 47.

[11]G. Maspero 1928, sđd, pp. 50 – 51; R. Srein 1947, sđd, tr. 241 – 245; Dohamine – Dorohiem 1965, sđd, tr. 29 – 30;Lương Ninh 2006, sđd, tr. 19 – 20;Lafont 2011, sđd, tr. 136 – 137; Po Dharma 2012, sđd, tr. 53. Xem thêm: Đào Duy Anh 1957, Lịch sử cổ đại Việt Nam, tập 4, Hà Nội, tr. 74 – 88; Phan Khoang 1970, sđd, 19 – 20;Trần Quốc Vượng (Chủ biên) 1985, sđd, tr. 140; G. Coedes 2011, Cỗ sử các quốc gia Ấn Độ hóa ở Viễn Đông, Nxb. Thế giới, Hà Nội, tr. 93 – 94; Lê Thành Khôi 20144,Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX, Nxb. Thế giới, Hà Nội, tr. 116 – 117.

[12]Xem thêm R. Stein 1947, sđd; Lafont 20111, sđd, tr. 136 – 141.Xem thêm : P – B. Lafont 1990, « Les grandes dates l’Histoire du Champa », Le Campa et le Monde Malais, CHCPI ấn hành, Paris, pp. 8 –  14 (bản tiếng việt mang tựa : Nhiều tác giả 1999, « Những niên đại quan trọng trong lịch sử Champa », Tập san Champaka 1, IOC – Champa, San Jose, tr. 39 – 44) ; Po Dharma 1999, « Góp phần tìm hiểu lịch sử Champa », Tập san Champaka1, sđd, tr. 10 – 11.

[13]G. Maspero 1928, sđd, pp. 51 – 52.

[14]L. Finot 1928, sđd, pp. 286 – 287.

[15]Dẫn lại theo, Dohamine – Dorohiem 1965, sđd, tr. 30.

[16]P-Y. Manguin 1979, “L’Introduction de l’Islam au Campa”, BEFEO (Tập san của Viện Viễn Đông Bác cổ) LXVI, pp. 255 – 287; P-B. Lafont 2011, sđd, tr. 81 – 82; PoDharma 2012, sđd, tr. 68; Sakaya 2013, Tiếp cận một số vấn đề văn hóa Champa, Nxb. Tri thức, Hà Nội, tr. 100 – 101. Xem thêm bài viết gần đây nhất về vấn đề này: Đổng Thành Danh 2016, “Bàn thêm về sự du nhập Islam giáo ở Champa” Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 3 (153), tr. 80 – 93.

[17]Xem bản dịch toàn bộ nội dung Tấn thư về nước Lâm Ấp: Lương Ninh 2006, sđd, tr. 351 – 356.

[18] G. Maspero 1928, sđd, pp. 50 – 51; R. Srein 1947, sđd, tr. 241 – 245; Dohamine – Dorohiem 1965, sđd, tr. 29 – 30; G. Coedes 2011, sđd, tr. 93 – 95;Lafont 2011, sđd, tr. 136 – 137; PoDharma 2012, sđd, tr. 53.

[19] Như trên.

[20] R. Stein 1947, sđd, pp. 13, 147; Đào Duy Anh 1970, “Cột đồng Mã Viện”, Tạp san Sử – địa số 19 – 20, Saigon, tr. 197 – 208; Lê Thành Khôi 2014, sđd, tr. 105. Xem thêm: Cao Nguyên Lộc 2014, Đi tìm dấu vết cột đồng Mã Viện,  (https://khoahocnet.com/2014/07/22/cao-nguyen-loc-di-tim-dau-vet-cot-dong-ma-vien/).

[21] Đổng Thành Danh 2015, “Xác định lại ranh giới Đại Việt – Champa trong lịch sử”, Tạp chí Xưa và Nay, số 458, tr. 19 – 20.

[22]B. Gay 1988, “Vue nouvelle sur la composition ethnique du Campa”, Actes du séminaire sur le Campa organisé à l’Université de Copenhague (1987), sđd, pp. 52 – 56; P-B. Lafont 2011, sđd, tr. 48 – 49;PoDharma 2012, sđd, tr. 12 – 13; DominiqueNguyen 2003, Từ vựng Hroi – Việt, IOC – Champa, San Jose, tr. 13 – 14.; Sakaya 2010, Văn hóa Chăm nghiên cứu và phê bình, Nxb. Phụ nữ, Hà Nội, tr. 132 – 134.

[23] Về vấn đề này có thể xem thêm bài viết: Jashaklikei 2014, Champa: Vương quốc đa dân tộc (https://jashaklikei.wordpress.com/2014/03/15/champa-vuong-quoc-da-dan-toc-gop-them-tu-lieu-ve-van-de-da-dan-toc-cua-vuong-quoc-champa/).

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *