[Phản biện sách] Văn hoá Sa Huỳnh với Đông Nam Á (phần 1)

wp_000701Isvan

PHẢN BIỆN VỀ SÁCH NGHIÊN CỨU VỀ VĂN HOÁ SA HUỲNH

Khảo cổ học Sa Huỳnh là một mảng nghiên cứu thu hút rất nhiều sự quan tâm của nhiều chuyên gia trong và ngoài nước. Sau hơn 100 năm nghiên cứu với 3 giai đoạn chính: giai đoạn 1909 – 1960, giai đoạn 1975 đến đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20, những năm 90 của thế kỷ 20 đến thập niên đầu thế kỷ 21.Cho đến nay nghiên cứu về Sa Huỳnh đã đạt nhiều thành tựu quan trọng. Bên cạnh đó nhiều nhà khảo cổ học cũng đã có nhiều nhà khoa học tên tuổi tham gia vào nghiên cứu này nhưM.Vinet, Madeleine Colani, H. Parmentier, Cabarre, nhà khảo cổ học Thụy Điển Olov Janse, Wilhelm G. Solheim, Saurin, H. Fontaine,Cố GS Trần Quốc Vượng, GS Hà Văn Tấn, PGS. TS Po Dharma, PGS. TS Lâm Thị Mỹ Dung, GS Trần Kì Phương, Cao Xuân Phổ, Ngô Văn Doanh, Lê Đình Phụng, Lương Ninh…v.v…

Trong các chương trình đào tạo Khảo cổ học ở Mỹ về Đông Nam Á, khảo cổ học Sa Huỳnh cùng với nhiều nền văn hoá khảo cổ ở Việt Nam được đưa vào nội dung giảng dạy. Tôi cũng may mắn được học môn học này và được tiếp xúc với nhiều nghiên cứu về khảo cổ học ở Đông Nam Á.Chính vì vậy, khi được biết có một nghiên cứu về Sa Huỳnh vớitiêu đề “Văn hoá Sa Huỳnh với Đông Nam Á” của nhóm tác giả Nguyễn Văn Chừng, Dương Minh Chính, Lê Văn Công, Lê Sơn, Nguyễn Văn Thanh, Lê Quốc Ân, và Nguyễn Quốc Chiến xuất bản tại nhà xuất bản Hồng Đức năm 2015thì tôi rất kỳ vọng sẽ được cập nhật và học hỏi thêm những phát hiện mới về nghiên cứu Sa Huỳnh.

Nội dung của quyển sách “giới thiệu” về 100 năm nghiên cứu Sa Huỳnh, các đặc điểm của văn hoá Sa Huỳnh, mối liên hệ với văn hoá Đông Sơn, và bàn về nước Việt Thường Thị và Champa trong lịch sử. Theo quan điểm của các tác giả này, dải đất của vương quốc Champa chỉ tồn tại trong khu vực Khauthara và Panduranga (Khánh Hoà – Ninh Thuận – Bình Thuận). Các phần đất từ núi Thạch Bi (Phú Yên) cho đến Nghệ An thuộc lãnh thổ của vương quốc Đại Việt vốn bị Champa chiếm đóng và phải đến thời Lê Thánh Tông mới thu hồi lại được. Bên cạnh đó, các tác giả khẳng định lãnh thổ của “nước ta” từ thời Hai Bà Trưng kéo dài từ Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân đến Nhật Nam. Cụ thể là từ tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) cho đến ranh giới Phú Yên – Khánh Hoà. Tuy nhiên, các nội dung tranh luận của các tác giả có rất nhiều vấn đề sai lầm và cần được đính chính. Xin trao đổi một số vấn đề trong nghiên cứu này:

Vấn đề 1: Nhầm lẫn cơ bản giữa các thuật ngữ – giai đoạn

– Hai Bà Trưng – Lâm Ấp: tác giả đang chứng minh là cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng có tầm ảnh hưởng trong 4 vùng Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân đến Nhật Nam nhưng sau đó người Tượng Lâm nổi dậy chiếm vùng đất này.

– Sa Huỳnh và Champa là hai giai đoạn khác nhau. Giai đoạn của Sa Huỳnh và Champa là hai đoạn khác nhau rõ rệt. Văn hóa Sa Huỳnh có niên đại khoảng 3500 TCN và kéo dài dài tới những thế kỉ 1, 2 SCN.[1] Riêng vương quốc Champa, dựa vào những thư tịch cổ Trung Hoa đã khẳng định mốc thời gian thành lập là từ thế kỷ 2 SCN đến 1832[2]. Ấy vậy mà tiêu đề có vẻ là hướng đến tìm hiểu Sa Huỳnh, các tác giả lại chỉ xoay quanh về lịch sử vương quốc Champa. Các nội dung về Sa Huỳnh dường như mất hút trong nội dung sách này.

– Nhầm lẫn giữa nước Đại Việt trong lịch sử và Việt Nam ngày nay. Việt Nam là quốc gia hiện đại với 54 dân tộc và có lịch sử của nhiều quốc gia cổ đại như Champa và Funan chứ không riêng lịch sử của Đại Việt.

Vấn đề 2: Lạc đề – bố cục lộn xộn

Ngay từ tiêu đề bài viết “Văn hoá Sa Huỳnh với Đông Nam Á”, người đọc sẽ hình dung rằng tác giả sẽ trao đổi về vị trí của văn hoá Sa Huỳnh trong không gian văn hoá ở Đông Nam Á. Tuy nhiên, dựa vào mục lục và nội dung trong sách không thể hiện được bức tranh Sa Huỳnh trong mối quan hệ trong văn hoá Đông Nam Á. Sự lạc đề này có thể chứng minh rõ qua bố cục của quyển sách. Quyển sách gồm bốn chương:

Chương 1: Những vương quốc hùng mạnh đã từng tồn tại trên dải đất Việt Nam trong quá khứ. Tác giả nói về ba vương quốc Phù Nam/Chân Lạp, Champa và Đại Việt.

Chương 2: Tác giả giới thiệu về ba trung tâm văn hoá thời cổ bao gồm : Đông Sơn, Sa Huỳnh và Óc Eo.

Chỉ duy nhất chương 3 là tập trung giới thiệu về văn hoá Sa Huỳnh: địa điểm khảo cổ, đặc trưng… tuy nhiên dường như các tác giả chưa thể hiện được bức tranh tổng quan của văn hoá Sa Huỳnh trong bản đồ khảo cổ học Việt Nam và Đông Nam Á. Tác giả cũng không đi sâu phân tích đặc trưng,chiều kích, con người và văn hoá Sa Huỳnh trong mối tương quan với các nền văn hoá khác ở Đông Nam Á. Bên cạnh đó, các thông tin mà tác giả cung cấp không có gì mới kể từ hội thảo hơn 100 năm nghiên cứu Sa Huỳnh diễn ra từ 22/7 đến 24/7/2009. Trong hội thảo này, các nhà khoa học đã phân tích, đánh giá và so sánh giữa Văn hoá Sa Huỳnh với các khu vực văn hoá khác trong vùng lãnh thổ Việt Nam như Văn hoá Đông Sơn ở phía Bắc, Văn hoá Óc Eo ở phía Nam; xem xét văn hoá Sa Huỳnh trong mối tương quan với các văn hoá khác ở Đông Nam Á như sự tương quan giữa gốm Sa Huỳnh và loại hình gốm Kanalay (Philippines). Rộng hơn nữa, các chuyên gia đã dựa trên các hiện vật để tìm hiểu những mối giao lưu văn hoá, thương mại với các văn hoá khác trong vùng Đông Nam Á như Philippines, Malaysia, Thái Lan, Campuchia, Lào… Các nhà khoa học cũng hướng sự chú ý đến những hiện vật thu được từ các mộ táng (mộ đất, mộ nồi, mộ vò và đồ tuỳ táng) một minh chứng quan trọng để tìm hiểu sự phân hoá giàu nghèo, tiền đề của sự phân hoá xã hội dẫn đến sự ra đời của một nhà nước sơ khai.

wp_000703

wp_000704

Một công trình nghiên cứu chỉ hơn 200 trang mà tài liệu phụ lục lên đến 100 trang bao gồm bài dịch và bản gốc. Điều này chưa bao giờ thấy trong nghiên cứu ở trong nước và nước ngoài. Những phụ lục đó theo đúng khoa học thì chỉ là tài liệu tham khảo để các tác giả phục vụ cho việc tham khảo – chứng minh cho luận điểm của mình.

 

Vấn đề 3: Sử dụng nguồn tư liệu chính phục vụ cho bài viết quá lỗi thời và không cập nhật những nghiên cứu mới

Thứ nhất: Về nghiên cứu lịch sử Champa, từ sau công trình của Maspero, nhiều công trình khác đã ra đời cũng giành sự quan tâm đến chủ đề này với nhiều nội dung và quan điểm mới, như các công trình của R. Stein, G. Coedes. Po Dharma, Lafont[3], chưa kể đến hàng trăm công trình, bài viết nghiên cứu về Champa khác… với số lượng các nghiên cứu như vậy, nhưng xuyên suốt tác phẩm các tác giả chỉ dựa chủ yếu vào công trình nghiên cứu lịch sử của tác giả Maspero đã lỗi thời và chứa nhiều thiếu sót.

Thứ 2: về nghiên cứu Sa Huỳnh: có ba giai đoạn nghiên cứu về văn hoá Sa Huỳnh… hiện nay nhiều nghiên cứu về Sa Huỳnh vẫn đang tiếp diễn và có nhiều công bố trước tác phẩm của nhóm tác giả này xuất bản. Cụ thể như Văn hóa Sa Huỳnh của Vũ Công Quý (1991), Những phát hiện mới về văn hoá Sa Huỳnh của nhóm tác giả Andreas Reinecke, Nguyễn Chiều, Lâm Thị Mỹ Dung (2002), Người Sa Huỳnh của Nguyễn Lân Cường (2007), đề tài Nghiên cứu cấp DHQG của Lâm Thị Mỹ Dung, mang tựaMột số vấn đề khảo cổ học ven biển miền trung Việt Nam giai đoạn chuyển tiếp từ văn hóa Sa Huỳnh sang văn hóa Champa (2005),… Tại sao các tác giả không cập nhật?

Vấn đề 4: Nội dung mang tính chủ quan, cảm tính, và không có chứng cứ rõ ràng

Dẫu biết các tác giả đã đi lạc đề trong nghiên cứu của mình nhưng luận điểm chính mà tác giả đang cố chứng minh là lãnh thổ Đại Việt kéo dài từ ngoài bắc cho đến Phú Yên (núi Thạch Bi). Tác giả đã phủ nhận toàn bộ công trình nghiên cứu dày đặc về Champa trên thế giới với những chứng cứ và lập luận rõ ràng. Có lẽ các tác giả không có cơ hội tiếp cận hoặc không đủ khả năng để tiếp cận những dữ liệu dày đặc về Champa thông qua các công trình nghiên cứu về sử học, khảo cổ, nghệ thuật, ngôn ngữ…

Điều rất nguy hiểm trong luận điểm của các tác giả này đã “kích động sự thù hằn” và “gây tổn thương thêm cho người Champa”. Champa là một quốc gia đã từng tồn tại trong lịch sử từ thế kỷ 2 TCN cho đến năm 1834 là điều không thể phủ nhận. Lãnh thổ của Champa cũng đã vẽ rõ ràng từ tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị cho đến tận giáp ranh Biên Hoà.Ấy vậy mà, từ một chủ nhân của vùng đất này, người Chăm lại trở thành kẻ cướp đất. Champa đã mất, người Cham giờ cùng tạm gác những quá khứ đau buồn và cùng 53 dân tộc anh em xây dựng một đất nước Việt Nam đa dạng và tôn trọng nhau kể cả quá khứ. Thế mà nhóm tác giả này lại phát ngôn ra được những từ khó coi của kẻ bề trên và tư tưởng ĐẠI KINH như vậy.

Với nghiên cứu này, những nghiên cứu về khảo cổ học và lịch sử bấy lâu nay của giới khoa học trong nước và quốc tế coi như là không có giá trị. Bởi những “phát hiện LẠ” vô lý và vô căn cứ dựa trên sự võ đoán xằng bậy.

Xin dẫn chứng cụ thể từng nhận định sai của nhóm nghiên cứu này:

Trang 9: Lời nói đầu

Đoạn 5: tư liệu nào để tác giả chứng mình?

Sa Huỳnh nằm trong địa phận nước ta trước khi bị quân Chàm xâm chiếm. Miền Trung Bộ (từ đèo Hải Vân đến đèo Cả) chỉ thuộc vào chính quyền Champa từ tiền bán thế kỷ III CN đến cuối thế kỷ XV CN. Đó là thời cực thịnh của vương quốc Champa. Trước khi vua Lê Thánh Tông phục hồi được miền đất này thì suốt gần mười ba thế kỷ, miền Trung Trung bộ là thuộc địa của chính quyền Champa. Miền Trung Trung Bộ, từ đèo Cả đến đèo Hải Vân không hề là bản địa của dân tộc Cham như nhiều người lầm tưởng.

Đoạn 15: Minh chứng cụ thể là gì? Từ “nước ta” là nước nào trong giai đoạn lịch sử này?

« Sa Huỳnh không phải là đất bản địa của dân tộc Chàm mà là thuộc địa của chính quyền Chàm trong một thời kỳ lâu dài gần mười ba thế kỷ dễ khiến cho nhiều nhà nghiên cứu có cái nhìn hạn chế.

Xác định núi Thạch Bi là ranh giới phía nam ta thời Hai Bà Trưng là một đóng góp mới. Khảo cổ học củng cố cho phát hiện ấy ».

Lê Thánh Tông phục hồi lại mảnh đất Việt? Quan điểm của tác giả: đang cố gạt bỏ vai trò của Champa trong lịch sử.

Nhầm lẫn giữa Sa Huỳnh và Champa

Một số nhà khảo cổ học cho rằng Văn hóa Sa Huỳnh thuộc ven biển miền trung Việt Nam chính là bằng chứng vật chất đầu tiên của người Chăm, mặc dù những nghiên cứu tới sẽ thay đổi quan điểm này, và có thể không phải chỉ có một cuộc đổ bộ duy nhất của những người Chăm có nguồn gốc biển đầu tiên 26. Tuy nhiên không nghi ngờ gì rằng tiếng Chăm là một ngôn ngữ Nam Đảo, có mối quan hệ gần gũi với ngôn ngữ Ache, Malay và xa hơn với các ngôn ngữ của người Indonesia, Philippines, Polynesia và Madagascar.

 

Trang 23:

Giai đoạn Sa Huỳnh: có người Champa, người Việt và Thượng…???

Văn hoá Sa Huỳnh Sắt, bản thân nó còn có một đặc trưng quan trọng rất cơ bản, khác với văn hoá Tiền Sa Huỳnh. Đó là sự xuất hiện phổ biến các loại công cụ và vũ khí bằng sắt. ……. Những đồ dùng công cụ độc đáo nhất là dao quắm, thuổng, xà beng đều có hình dáng và kích cỡ thích hợp để khai phá đất rừng, đất đồi gò khô rắn của người Việt, người Champa ở đồng bằng, kể cả người Thượng ở miền núi”.

Nhóm tác giả này lại nhầm lẫn giữa niên đại và tên gọi

Trang 24-26: Trích dẫn không có phân tích luận cứ. Các tác giả muốn nói điều gì khi sử dụng các trích dẫn này? Những nghiên cứu đã lỗi thời được sử dụng để chứng mình cho luận điểm sai của mình có đúng là một nghiên cứu?

Trang 30: “ Campâ theo nghĩa chữ Phạn là tên một loại cây cho hoa màu trắng rất thơm. Trong nước Ấn Độ cổ đại, Campâ là tên một nước nhỏ nay thuộc quận Bhagalpur, không phải nước Champa mà chúng ta đang nghiên cứu”. Thuật ngữ Champa  hay Campâ? Điều tối thiểu nhất với nhà nghiên cứu về Champa là phân biệt được rõ ràng giữa thuật ngữ Chăm – Champa. Tên gọi Campâ không biết xuất phát từ đâu mà những tác giả này lại dùng? Sai lầm tối thiểu nhất như vậy cũng đủ để đánh giá sự thiếu hiểu biết của nhóm tác giả này khi đưa ra những nhận định của mình.

P31: Dựa vào nghiên cứu của Codes để khẳng định mảnh đất của vương quốc Champa vốn thuộc Đại Việt.

“Ở phía Nam, vào 192 CN, nhà nước Champa được hình thành trong vùng các tỉnh Khánh Hoà, Ninh Thuận và Bình Thuận ngày nay, lệ thuộc vương quốc Phù Nam… Theo Coedes, thì người Chàm tiến hành cuộc tấn công này (miền Trung trung bộ) vào 193, có thể là người Chàm Hidou hoá. Vào năm 248, họ chiếm miền đất thuộc xứ Huế ngày nay” (Bourotte).

Trang 31:

Qua bia ký đã khai quật được có thể xác định kinh đô thời lập quốc của nhà nước Champa, vào thế kỷ 2 là vùng Kauthara (Khánh Hoà ngày nay), cho thấy nơi hình thành vương quốc Chàm là Nam Trung bộ.

Đoạn 4: Nơi hình hành Champa chỉ gói gọn trong vùng Nam Trung Bộ. Champa là quốc gia tập quyền?

Phán đoán cảm tính

Trang 32: Nhóm tác giả tự hư cấu những dữ kiện lịch sử mà không dựa trên bất cứ một tài liệu nghiên cứu nào trước đó.

Đoạn 1: Từ địa bàn ban đầu là nam trung bộ, quân Champa đã từng bành trướng về phía nam và phía tây, nhưng ở nam bộ và tây nguyên, họ đụng phải vương quốc Phù Nam rồi vương quốc Khmer hùng mạnh nên không lâu sau là quân Champa bị đẩy lùi. Thế là họ dồn sức mở rộng về phía Bắc, nơi người Việt đang bị đế quốc Hán thống trị. Người Việt bấy giờ bị tước hết quyền tự vệ, còn quân đội thống trị trú đóng nơi vùng sâu xa thì rất yếu kém.

Trang 32:

Funan – Champa – Đại Việt -> thế kỷ nào?

Thời đại giữa các quốc gia này là thời đại nào?

Đang tự mâu thuẫn với luận điểm của mình các tác giả có nắm được niên đại của mỗi quốc gia giai đoạn này không?

Lâu nay, công luận chỉ nói nhiều về việc quân Việt đánh đuổi, chiếm đất của người Chàm mà không biết rằng trước đó quân Chàm thừa thế người Việt tay không vũ khí đã cướp phá, chiếm đất của người Việt suốt gần một nghìn năm [chứng cứ lịch sử nào để chứng minh sự kiện này và ở giai đoạn nào trong lịch sử?]. Đến đầu thế kỷ thứ III CN thì quân Chàm đã chiếm hết miền Trung Trung bộ. Quân Chàm tiếp tục đánh lên phía Bắc, đã lấn chiếm nước ta từ núi Thạch Bi đến Nghệ An [Giai đoạn này người Việt đã có quốc gia hay chưa? Quốc gia này có ranh giới lãnh thổ như thế nào? Những bằng chứng nào để chứng minh cho luận điểm này của các  tác giả?]. Quân Hán chỉ đẩy lùi quân Chàm về phía Hoành Sơn mà thôi, cho đến khi bị vua ngôi Quyền đánh đuổi về Tàu. Vua Ngô Quyền chưa giải phóng được phần đất phía Nam bị quân Chàm xâm chiếm [Giai đoạn lịch sử này có sự hiện diện của quốc gia nào với ranh giới lãnh thổ ra sao? Có sự kiện lịch sử nào đề cập vấn đề này không hay các tác giả tự bịa ra? ]. Các vua Lê Hoàn, các vua Triều Lý, các vua triều Trần đều tìm cách lấy lại phần đất phía Nam [Các vị vua Lê Hoàn là các vị vua nào?. Rõ ràng ngay cả lịch sử Đại Việt, nhóm tác giả cũng không nắm vững. Trong giới khoa học, người ta gọi là nhà Tiền Lê còn trong tác phẩm của nhóm tác giả lại sử dựng danh xưng mới là “Các vị vua Lê Hoàn” ], nhưng phải đến thời vua Lê Thánh Tông, quân ta mới đẩy lùi hết quân Chàm, khôi phục hoàn toàn phần đất nước phía Nam tức là miền Trung Trung Bộ [Ngay cả lịch sử Đại Việt cũng không hề nói đến việc khôi phục hoàn toàn lãnh thổ Đại Việt ở phía Nam. Các sử liệu chỉ ghi chép là tấn công thành Vijaya và sát nhập lãnh thổ này vào đất Đại Việt. Các tác giả chắc đọc sự kiện lịch sử năm 1471 sau khi Quân Đại Việt tấn công, chiếm thành Đồ Bàn và tiêu diệt hơn 60 ngàn dân Chàm và sau đó bang Vijaya bị sát nhập vào lãnh thổ Đại Việt ] (Đoạn 2 trang 32).

Trong hơn một nghìn năm, người Việt không có quân đội của riêng mình, quân Hán trú đóng nơi xa xôi thì yếu kém, quân Chàm lại đang sung sức, đã thừa thế từ phía nam núi Thạch Bi tiến đến gần hết miền bắc Trung Bộ. Thế rồi, khi nước Đại Việt độc lập, quân Việt đã từng bước đẩy lùi họ về tận miền cực nam Trung Bộ cho đến khi nước họ bị tiêu vong hoàn toàn. 

Champa từ một quốc gia có lãnh thổ chủ quyền rõ ràng và được ghi chép trong lịch sử lại trở thành một kẻ đi xâm chiếm đất Đại Việt, và bản thân các tác giả này công nhận rằng, việc lấy lại phần lãnh thổ này là hiển nhiên. Đây là một sự phỉ báng tráo trở đối với lịch sử. Ở Đông Nam Á cổ đại cho đến trung đại, lịch sử của mỗi quốc gia đều có cương vực rõ ràng, có những ghi chép lịch sử rõ ràng, ấy vậy mà các tác giả lại tráo trở lịch sử không một bằng chứng nào để chứng minh điều này. Người Chàm từ một dân tộc bị mất đất trở thành kẻ cướp đất. Ngày nay, họ trở thành một thành viên trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tại sao các tác giả lại xát muối vào vết thương quá khứ của họ? Có phải các tác giả đang xúc phạm và kích động chính cộng đồng Chàm không?

Giai đoạn lịch sử thành Vijaya (sau bị đổi thành thành Đồ Bàn) bị chiếm đóng là một trong những giai đoạn tang tóc nhất trong lịch sử Champa.Ít nhất hơn 60.000 người Champa  bị giết và 30.000 bị bắt làm nô tỳ cho quân Đại Việt. Kinh thành Vijaya bị phá hủy hoàn toàn, người dân bị tàn sát vô tội vạ, trong đó có 10 ngôi tháp này bị phá hủy.Đây là cuộc tàn sát đẫm máu nhất của Đại Việt đối với Champa. Hoàng tộc Champa chạy sang Malacca (khoảng 20.000 trốn thoát bằng thuyền qua cửa đầm Thi Nại. khoảng 30.000 người chạy sang Lào và Campuchia sau cuộc tàn sát đẫm máu này.Lê Thánh Tôn giải tán vương quốc Champa. Thủ đô chính trị, hành chánh và tín ngưỡng của vương quốc Bắc Champa bị xoá bỏ.Vijaya bị đổi thành Đồ Bàn và cấm người Champa đến cư ngụ.

Tác giả lại tiếp tục phỉ báng lịch sử với những luận điệu vô chứng cứ: “Có người thấy người Chàm lập kinh đô Trà Kiệu ở Quảng Nam, kinh đô Đồ Bàn ở Bình Định trong vùng đất Trung Trung bộ mà nay vẫn còn đó các di tích như Mỹ Sơn, thành Đồ Bàn và mạng lưới tháp Chàm rải rác ở đó nên lầm tưởng miền đất ấy là đất bản địa của dân tộc Chàm. Phải biết rằng, các di tích ấy chỉ xuất hiện từ thế kỷ IV CN đến thế kỷ IX CN, thời bành trướng của vương quốc Champa. Từ vùng Khauthara (Khánh Hoà) bản địa, theo đà bành trướng lên phía Bắc, họ đã dời đô ra Bình Định rồi Quảng Nam, sau cùng họ rút lui trở lại Bình Định để cuối cùng lui về Phan Rang. Cũng giống như thế, mà theo chiều ngược lại, như ta đã biết, nước Việt đã từng dời đô từ Phong Châu đến Cổ Loa, vô Hoa Lư, lại ra Thăng Long, rồi lại vào Huế”.

[Các tác giả dường như chưa học về lịch sử Việt Nam với các triều đại khác nhau. Từ giai đoạn nào người Việt vào vùng đất Champa? Sử liệu có ghi rõ ràng. Ngay cả sau 1471, vùng đất Champa vẫn là một vùng đất xa lạ của người Việt, những lớp người di cư đầu tiên là những tội phạm bị đày ải chứ không phải là dân thường.]

Một điều nữa, các tác giả dường như không có biết rằng, Champa là một quốc gia liên bang với 5 tiểu bang khác nhau. Mỗi bang có tổ chức chính trị – hành chính khác nhau và lệ thuộc vào một nhà nước mạnh nhất. Những luận điểm của các tác giả chứng tỏ họ chưa hiểu được vấn đề này. Hay các tác giả chỉ biết dựa vào công trình nghiên cứu của Maspero vốn đã lỗi thời trong nghiên cứu lịch sử Champa? Nếu các tác giả chưa có khả năng tiếp cận những dữ liệu nước ngoài được cập nhật, xin tìm hiểu những nghiên cứu của Lafont, Po Dharma, William Southworth hay Hickey[4]…để hiểu về những thành tựu nghiên cứu mới về lịch sử và khảo cổ học Champa với những lập luận khoa học và chứng cứ rõ ràng.

Các tác giả cũng không hiểu về tư tưởng – văn hoá của tộc người Chăm: Người Champa không bao giờ đi chiếm vùng đất khác. Bởi vì trong quan điểm truyền thống của Champa, vùng đất của tổ tiên là vùng đất thiêng, những vùng đất có sự xâm phạm của người kẻ khác là vùng đất của sự ô uế nên tránh xa. Lịch sử đã ghi chép lại nhiều lần về các sự kiện vua Chế Bồng Nga tấn công vào thành Thăng Long và không hề chiếm đóng vùng đất này.Trong giai đoạn 1367-1389 đã có 12 lần tấn công Đại Việt và quân Champa đã 3 lần tiến thẳng vào Thăng Long nhưng không bao giờ chiếm cứ đất này mà cho quân lính rút về lại Champa.

Trang 33:

Đoạn 4: “ Trong hơn một nghìn năm, người Việt không có quân đội của riêng mình, quân Hán trú đóng nơi xa xôi thì yếu kém, quân Chàm lại đang sung sức, đã thừa thế từ phía Nam núi Thạch Bi tiến đến gần hết miền bắc Trung Bộ. Thế rồi, khi nước Đại Việt độc lập, quân Việt đã từng bước đẩy lùi họ về tận miền cực Nam Trung bộ cho đến khi nước họ bị tiêu vong hoàn toàn.”

Lúc đó chưa có Đại Việt thì làm sao mà khẳng định là Champa chiếm đất Đại Việt?

Đoạn 34:

Thời kỳ vương quốc Chàm xâm lược nước ta rất là khốc liệt. Khốc liệt hơn khi ta đánh giành lại. Quân Chàm đã tiến hành xâm lược nước ta là một sự thật lịch sử, nhưng lại không được sử ta nhắc tới vì đó là thời Tiền Đại Cồ Việt.[ Đọc đến đoạn này tôi đang tự hỏi là những ghi chép lịch sử nào để tác giả khẳng định giai đoạn này là khốc liệt và quân Chàm xâm lược nước “ta”? Nếu không có lịch sử “ta” nhắc tới thì bằng chứng đâu để tác giả khẳng định điều này? Nhìn toàn bộ lại câu này, tôi thật sự không hiểu ý kết của tác giả bởi câu văn lủng củng. Tại sao lại [sử “ta” không nhắc tới là vì đó là thời Tiền Đại Cồ Việt????]

Trang 35:

Thời hưng Thịnh nhất của nước Champa, kinh đô đặt tại Indrapura (Quảng Nam) và miền đất biên giới phía bắc của nước ấy là Châu Địa Lý. Hai xác định về biên giới khi lập quốc và khi vực thịnh nêu trên,làm lộ dần ra vùng đất Trung Trung bộ là vùng đất mà vương quốc Champa chiếm được trong giai đoạn bành trướng. Đó là thời kỳ nước ta nằm dưới ách thống trị của đế quốc Trung Hoa.Vương quốc Champa nhờ vào vị trí nằm ngoài mưu đồ bành trướng của thực dân phương Bắc ở tận Lạc Dương ngày nay, nên họ đã phát triển dần lên phía bắc. Đến khoảng thế kỷ thứ V, thì họ dời kinh đô đến Indrapura (Quảng Nam) và biên giới phía bắc của họ đẩy lên tới Châu Địa Lý (Quảng Bình). Thế rồi, khi nước ta giành được độc lập, khi yên mặc bắc thì ta tiến tới việc giành lại phần lãnh thổ bị mất ở phía nam. Quân vua Lê Đại Hành đánh chiếm kinh đô Indrapura (Quảng Nam). [Đây có phải là sự nguỵ biện cho việc xâm chiếm đất Champa không? Về mặt học thuật, lập luận này của tác giả sẽ có giá trị nếu có những chứng cứ xác thực. Còn nếu chỉ nêu ra ý tưởng với những lập luận vô lý và vô căn cứ thì sẽ coi như vô giá trị trong khoa học].

Trang 36

Đoạn 2: “Tư liệu thư tịch cho biết [không biết các tác giả đang nói về thư tịch nào?], vương quốc Champa đã trải qua nhiều triều đại như các triều đại: Gangarajia, Paduranga, Indrapura, Vijaya, Panduranga II…”[vương quốc Champa không hề có tên các triều đại như vậy. Vài tên trong đấy là tên của mỗi tiểu bang.] với bốn trung tâm lớn là Amaravati, Vijaya, Panduranga, Virapura, Kauthara” [Tác giả đang dựa quá nhiều vào sử liệu nghiên cứu của Maspero về lịch sử Champamà nhiều nhà sử học đã đánh giá lại. Champa là quốc gia liên bang nhưng những trung tâm này tác giả hiểu như là trung tâm của một quốc gia tập quyền như cơ cấu tổ chức chính trị của Đại Việt chăng?]

Trang 37

Đoạn 2: “Dân cư không đông lắm gồm người Chàm miền đồng bằng duyên hải và người Thượng miền núi. Người Thượng không thay đổi nhiều so với thời xa xưa. Người Chàm gọi họ là “mọi” hay “người Thượng”, giống như cách gọi của người Việt”

[Chăm không bao giờ gọi các dân tộc ở cao nguyên Trung phần là Mọi mà có danh xưng riêng cho mỗi tộc người Tây Nguyên. Các danh xưng của các dân tộc này còn được ghi chép trong các văn bản cổ Chăm và trong các tài liệu nghiên cứu lịch sử. Người Chăm gọi từng tộc người với các tên gọi rất cụ thể chứ không phải là từ Mọi hay Thượng chung chung như cách mà người Việt gọi. Cụ thể, người Chăm gọi người Churu, Rahde (người Êđê), Bahna (người Ba Na), K’ho (người Cơ Ho), Jarai (người Gia Rai), S’tieng (người Xtieng), D’lach (người Lạch),…   Riêng về từ Mọi, người Pháp ghi chép lại để chỉ chung cho các sắc dân miền núi].

Đoạn 3:

Có lẽ nguồn gốc người Chàm là người Malayo-Polynesien. Người ta liêt ngôn ngữ Chàm vào hệ ngôn ngữ Malayo-Polynesien, có vay mượn nhiều ở các ngôn ngữ láng giềng” [Các tác giả hình như chưa bao giờ đọc tài liệu về nguồn gốc ngôn ngữ Chàm. Chuyện khoa học đã chứng minh hàng trăm năm nay về nguồn gốc ngôn ngữ Chàm vốn là Malayo-Polynesien rồi mà đến nay các tác giả vẫn  đang nói là “CÓ LẼ”. Ngôn ngữ này vay mượn từ ngôn ngữ láng giềng nào??].

Tiếp đến, các tác giả đang nói về ngôn ngữ, cho rằng tiếng Chăm vay mượn nhiều từ làng giềng mà nhảy sang việc trích dẫn về tương đồng y phục giữa người Malay và Chăm của Maspero để chứng minh cho luận điểm về ngôn ngữ.

Đoạn 5: Theo sử sách còn để lại, tinh tinh hiểu được tiếng người và môi nó là món ăn tuyệt ngon. [Không biết tác giả đang sử dụng sử liệu nào để nói về việc này?Những ý đại loại như thế này dùng để chứng minh cho việc gì?]

Trang 38:

Biển cũng có các loại san hô và các loại ngọc trai rất quý. Người Chàm đánh cá giỏi và dũng cảm. Các vụng biển có rất nhiều loài cá, có loại đồi mồi rất quý, bán giá đắt. Người Chàm là những người đánh bắt cá giỏi và là thuỷ thủ dũng cảm. Dân cư không đông, ngày nay cả xứ Trung Kỳ (không kể Thanh Hoá và Nghệ An) chỉ có khoảng dưới hai triệu rưỡi người, chứng tỏ ngày xưa còn ít hơn nữa.

[Tôi không biết đoạn này tác giả nói về hải sản hay nói về con người. Vì tự dưng đặt 1 câu về biển rồi nhảy sang về dân cư. Các nội dung lập luận rời rạc và lộn xộn khiến cho người đọc thấy thất vọng với những gì mà họ kỳ vọng để tìm hiểu.

Không biết tác giả lấy số liệu dân cư ở đâu để ước chừng được con số 2.5 triệu. Mà con số này là người Chàm hay cả người Kinh ở miền Trung? Con số 2,5 triệu người này là thời điểm nào? ]

[Các số liệu về dân cư trong lịch sử rất khó xác định, nhất là khi những ghi chép bị tiêu huỷ sau mỗi lần xâm chiếm. Riêng về người Chăm trong lịch sử và hiện tại có dân số rõ ràng không thể phán đoán như các tác giả được. Các tác giả nên nhớ rằng, lịch sử của Champa đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm khác nhau sau khi bị chiếm đóng, bị diệt chủng, bị bắt làm nô lệ, lưu đày, trốn khỏi đất nước của mình để đến sống tại các nước khác nhau như Cambodia, Lào, Thái Lan, Indonesia, Malaysia. Không thể lấy dân số hiện tại để ước đoán cho dân số của ngày xưa được. Ngay tại Cambodia, dân số Chàm trước thập niên 1980s có đến 300 ngàn người, sau khi bị thảm hoạ diệt chủng Khmer đỏ, dân số chỉ còn một nửa.  Bên cạnh đó còn có cả quá trình hoà nhập, đồng hoá hay phân ly tộc người Chăm trong lịch sử.]

Trang 39:

“Các đẳng cấp xã hội trong xã hội người Chàm, giống như ở Ấn Độ, được chia làm bốn đẳng cấp: Brahman, Kastriya, Vacya và Cudras. Nhưng sự phân chia ấy ở người Chàm có vẻ công thức hơn là thực tế.Những nghiên cứu lịch sử khá dè dặt khi nhắc đến các đẳng cấp trong xã hội Champa vì không có nhiều cứ liệu để chứng minh. [Không hiểu là tác giả đang nói “sự phân chia đẳng cấp ở người Chàm có vẻ công thức hơn thực tế là thế nào”?]Và, ngay cả tên gọi của bốn đẳng cấp trong Bàlamôn giáo, nhóm tác giả cũng ghi sai: đẳng cấp thứ 3 là Vaishya và đẳng cấp cuối cùng là Sudra chứ không phải “Cudras”.

Trang 42:

Đoạn 3: Trong đoạn nói về Vương triều 1, nhóm tác giả có nhận định: “Người lập ra vương quốc Chàm là Cri Mara, nhưng sau đó dòng trực hệ tuyệt tự, ngôi vua chuyển sang hẳn một người  tên phạm hùng… Phạm Hùng cũng như các vị vưa trước đó tìm cách bành trướng  lên phía bắc, kéo quân đi cướp bóc các thành thị của Việt nam để về làm giàu….” Xin nói rằng, đây là thời kì mà các vùng đất phía bắc Champa vẫn chịu sự đô hộ của phong kiến phương bắc. Phải tới năm 938, với chiến thắng lịch sử của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng với quân Nam Hán, nước Âu Lạc mới chính thức trở nên độc lập và tự chủ. Còn danh xưng Việt Nam chỉ xuất hiện vào thời Gia Long và Minh Mạng mà thôi.Giai đoạn thành lập Lâm Ấp đã có các “thành thị của Việt Nam chưa”? Danh xưng tộc người Việt xuất hiện từ khi nào?

Giao Châu và Giao Chỉ giai đoạn này là vùng đất thuộc Trung Quốc có thứ sử điều hành.

Các vương triều này là của tiểu quốc hay của liên bang? Nếu là tiểu quốc là tiểu quốc nào? Sử liệu nào ghi chép điều này?

Chỉ mới 42 trang mà có hàng trăm lỗi, bản thân tôi không đủ kiên nhẫn để phản biện mỗi đoạn trong nghiên cứu này của nhóm tác giả. Liệu đây thực sự là một công trình nghiên cứu ? Vai trò của Nhà xuất bản trong việc biên tập và kiểm duyệt nghiên cứu này ra sao ? Với một nghiên cứu quá nhiều sai lệch thế này, trách nhiệm của Nhà xuất bản như thế nào ?

Tôi yêu cầu nhà xuất bản thu hồi lại quyển sách này. Bởi các lý do:

  1. Đây không thể xem là một công trình nghiên cứu khoa học được. Bởi vì nội dung không có gì mới. Nghiên cứu Sa Huỳnh đã có trên 100 năm nay nhưng những gì mà các nhóm tác giả này đưa ra không có những điểm nào mới. Tiếp đến, nội dung quá lạc đề so với tiêu đề sách. Các lập luận không chứng cứ và rất vô lý. Sách này không xứng đáng là một tài liệu nghiên cứu khoa học để cho các nhà khoa học tham khảo.
  2. Người Chàm, vương quốc và văn hoá Champa đã tồn tại trên dải đất miền Trung, Tây Nguyên hàng ngàn năm mà các nhà khoa học trong nước và quốc tế thừa nhận. Sau khi Champa đã sát nhập vào Việt Nam, lịch sử đã sang trang, người Champa cũng đã chịu nổi đau với quá khứ và hiện tại. Nghiên cứu này cố tình xát vào vết thương lịch sử của người Chăm. Hiện nay, quyển sách này đang gây sự căm phẫn của người Chăm với nhóm tác giả nghiên cứu và cả nhà xuất bản khi cho phép in tác phẩm này. Điều này chắc hắn trái với chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc cố kết và hài hoà giữa các dân tộc với nhau. Trong nghiên cứu này, các tác giả đặt mình ở vị trí trên cao hơn “tư tưởng ĐẠI KINH” để phán đoán vô lý về những chứng cứ lịch sử ngược lại với những công trình nghiên cứu giá trị hàng trăm nay của các học giả trong nước và quốc tế.
  3. Đất nước Việt Nam ngày nay là tập thể của 54 dân tộc khác nhau vốn từng có quá trình phát triển lịch sử đa dạng chứ không phải đất nước của riêng một dân tộc nào. Trong nghiên cứu lịch sử, điều sai lầm nhất của nhóm tác giả này chính là luôn luôn thể hiện tư tưởng ĐẠI KINH khi dùng từ nước ta chỉ ám chỉ dân tộc đa số. Nước ta trong lịch sử là nước nào? Nước họ là nước nào? Không lẽ những quốc gia và dân tộc trong lịch sử hiện vẫn đang tồn tại và xây dựng một đất nước Việt Nam thống nhất lại không được thừa nhận?

Trao đổi lịch sử với con mắt định kiến và tư tưởng ĐẠI KINH. Liệu điều này thực sự cần cho một nền khoa học Việt Nam đa dân tộc? Hay Khoa học và cả sử học ở Việt Nam chỉ dành cho người Kinh viết nên? Tư tưởng Đại Kinh trong khi viết nghiên cứu thế này sẽ là một tiền lệ tạo nên khoảng cách giữa những người Kinh và các tộc người thiểu số ở Việt Nam – Những tộc người vốn từng có những giá trị lịch sử – văn hoá – ý thức tộc người khác nhau trên dải đất Việt Nam ngày nay.

[1]John N. Miksic, Geok Yian Goh, Sue O Connor – Rethinking Cultural Resource Management in Southeast Asia 2011 Page 251 “This site dates from the fifth to first century BCE and it is one of the earliest sites of the Sa Huỳnh culture in Thu Bồn Valley (Reinecke et al. 2002, 153–216)

[2]P-B Lafont, «Vương Quốc Champa. Địa Dư, Dân Cư và Lịch Sử», Champaka số 11, 2011, tr. 11-20

[3]R. Stein,  Le Linyi Sa localisation, sa contribution à laformation du Champa et ses liens avec la Chine. HanHiue, Pékin, 1947; G. Coedes, Les Etats Hindouisés d’Indochine et d’Indonésie.Paris, 1964; Dohamine – Dorohiem, Dân tộc Chàm lược sử, Saigon, 1965; Po Dharma, Le Panduranga – Campa (1802 – 1835), EFEO, Paris, 1987(bản dịch tiếng Việt mang tựa đề :Vương quốc Champa : lịch sử 33 năm cuối cùng, IOC – Champa, San Jose, 2012); Lafont, sđd, 2011…

[4] Lafont, sđd, 2011 ; Po Dharma, sđd, 2012;…

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *