Phật Viện Đồng Dương và pho tượng đồng Laksmindra – lokesvara: Những nhận thức mới về tín ngưỡng và nghệ thuật Phật giáo của vương quốc Champa

Tác giả: Trần Kỳ Phương

Di tích Đồng Dương tọa lạc tại làng Đồng Dương, xã Bình Định Bắc, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, đây là một phức hợp kiến trúc rộng lớn của một Phật viện (vihara) bao gồm nhiều tổ hợp đền-tháp. Đồng Dương là di tích Phật giáo lớn nhất của vương quốc Chiêm Thành/Chămpa; và là một trong những di tích Phật giáo quan trọng nhất của vùng Đông Nam Á. 

Phật viện Đồng Dương được đức vua Jaya Indravarman II, trị vì khoảng từ 875-899, thành lập năm 875 được khắc trong văn bia của ngài dựng tại di tích. Minh văn của vua Jaya Indravarman II ghi chép rằng:

“Đức vua Indravarman đã cúng dường ruộng đất và mùa màng thu hoạch, nô lệ nam nữ, bạc, vàng, đồng, và những vật quý khác đến Ngài Sri Laksmindra-Lokesvara, để xử dụng cho chư tăng, để hoàn thiện sự Hoằng Pháp. Bất cứ ai – vua chúa, đẳng cấp tướng lãnh (ksatriyas), đẳng cấp bà-la-môn, quan lại… thương nhân, kẻ nào dời chuyển, phá hoại hoặc… (những lễ vật này), chúng sẽ bị đoạ vào địa ngục Maharaurava; trái lại, ai bảo trì, phát hiện chúng (những lễ vật đã bị di dời), tùy theo hạnh nguyện, có thể tái sinh vào cõi Niết Bàn!” (Majumdar 1985: III, 88)

Theo minh văn trên, Phật viện này được cúng dường cho Laksmindra-Lokesvara, là đấng bồ-tát hộ trì cho vương triều Indrapura, trị vì vương quốc Chămpa từ 875-981. Đây là phức hợp kiến trúc đền – tháp Phật giáo to lớn và quan trọng nhất của vương quốc Chămpa được thể hiện qua các công trình kiến trúc cũng như tác phẩm điêu khắc mang lại một vẻ đẹp độc đáo duy nhất trong nghệ thuật Chàm. Ngoài ra di tích này cũng cung cấp những bia ký quan trọng góp phần tìm hiểu lịch sử và văn hóa vương quốc ChămPa trong các thế kỷ 9-10.

Theo khảo tả của Parmentier vào đầu thế kỷ trước, Phật viện này có ba tổ hợp chính trải rộng trên một chiều dài 1300 mét, theo trục Đông – Tây, được phân bố thành ba khu tường bao vuông vức, Parmentier đặt tên là Khu (Enceinte) I, Khu II và Khu III (Sơ đồ 1). Khu I bao gồm Phật đường chính của hoàng gia và những đền – tháp phụ bao quanh; Khu II là một tiền đình (mandapa) hình chữ nhật dùng để chuẩn bị nghi lễ như múa thiêng, hát thiêng, bày lễ vật… kết hợp với Khu I; Khu III là tự viện nơi hành lễ của chư tăng trong Phật viện và của các tín đồ (Trần Kỳ Phương 2008: 51).

 

Phật viện Đồng Dương đầu thế kỷ XX. Ảnh: H. Parmentier

Khu I là một tổ hợp đền – tháp đồ sộ dựng trong một khu tường bao hình chữ nhật, 326 x 155 mét, bao gồm Phật đường chính là kiến trúc to lớn nhất, trong chánh điện của nó bày một đài thờ lớn bằng sa thạch gắn sát vào tường phía tây. Đài thờ này là một tác phẩm điêu khắc hoàn chỉnh gồm hơn 30 hoạt cảnh khắc họa tiểu sử của đức Phật Thích Ca Mâu Ni dựa theo hai phẩm Quảng Đại Trang Nghiêm Kinh/Thần Thông Du Hý Kinh/Phổ Diệu Kinh (Lalitavistara Sutra) và Bổn Sinh Kinh (Jataka Sutra). Đặc biệt, các hoạt cảnh này diễn tả chi tiết và nhấn mạnh ba cuộc đại giác ngộ cuối cùng của đức Phật Thích Ca (Sakyamuni), chẳng hạn các cảnh Đại Xuất Gia (Mahabhiniskramana), Sa Nặc (Chandaka) dắt con ngựa Kiền Trắc (Kanthaka) trở về hoàng cung mang theo chiếc vương miện của thái tử Sĩ Đạt Ta (Sitthartha), đoàn quân của Ma vương (Mara) và ba người con gái của Ma vương hiện lên quấy phá đức Phật khi ngài thiền định, đức Phật chiến thắng Ma vương, … (Chutiwongs 2011: 18-26). Trên đài thờ này thờ ngẫu tượng của vị thần chủ của Phật viện là Bồ – tát Laksmindra – Lokesvara (thảo luận dưới đây).

Xung quanh Phật đường chính là các đền thờ phụ đều trổ cửa về hướng Đông, có thể đây chính là những ngôi đền nhỏ để thờ phượng tổ tiên của vua Jaya Indravarman II mà văn bia của ngài đã đề cập; đặc biệt, sát vào bốn bức tường bao có bảy ngôi miếu hướng về bốn phương, trong miếu thờ bảy vị bồ – tát Hộ Thế (lokapala); tấm bia nổi tiếng của vua Jaya Indravarman II cũng được tìm thấy trong khu vực này (Parmentier 1909: 484-5). Khu I nối với Khu II bằng một tháp – cổng gopura khép kín với tường bao ở phía đông.

 

Sơ đồng tổng thể di tích Phật viện Đồng Dương. Bản vẽ của H. Parmentier

Khu II gồm một mandapa (tiền đình) có kiến trúc hình chữ nhật có hai cửa chính Đông – Tây và hai bức tường Nam – Bắc mỗi bên có sáu cửa sổ, mái lợp bằng ngói dẹp hình mũi tên. Tiền đình là nơi tổ chức múa hát thiêng và chuẩn bị lễ vật cũng như thiền định trước khi vào hành lễ tại Phật đường của Khu I. Chính tại ngôi tháp – cổng ở hướng đông của tổ hợp này, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy ba pho tượng thần hộ pháp dharmapala xung quanh cửa chính của ngôi tháp. Bốn pho tượng hộ pháp này (một pho tìm thấy tại phía bắc tháp – cổng của Khu III) đều có kích thước bề thế, mỗi pho được thể hiện bằng một tảng đá to nguyên khối đứng trên một con thú thiêng như thủy quái makara, trâu, sư tử, gấu được gắn vào dưới đế tượng. Chiều kích đồ sộ và phẩm chất thẩm mỹ tuyệt hảo của các tác phẩm điêu khắc ở Đồng Dương bộc lộ một kỹ thuật tạc tượng điêu luyện mà các giai đoạn nghệ thuật trước đó chưa đạt được.

 

Việt hóa bản vẽ của Nhà nghiên cứu Nguyễn Thượng Hỷ

Khu III bao gồm một kiến trúc lớn hình chữ nhật có bốn hàng cột lớn chống đỡ mái ngói, về phía Tây của tự viện này có một đài thờ trên đó thờ pho tượng Phật Di Lặc (?) bằng sa thạch ngồi buông thỏng hai chân trên một cái ngai cao. Những hoạt cảnh được chạm trổ quanh đài thờ này, cũng dựa theo Quảng Đại Trang Nghiêm Kinh (Lalitavistara Sutra), kể các câu chuyện về cuộc đời của Phật Thích Ca trước khi ngài xuất gia là thái tử Sĩ Đạt Ta/Tất Đạt Đa (Siddhartha), bao gồm cảnh đản sinh đức Phật dưới tán cây Vô Ưu (Asoka) trong vườn Lâm Tì Ni (Lumbini), hoàng hậu Ma Da (Maha Maya) tái sinh vào cõi trời Đạo Lợi (Trayastrimsa), nỗi buồn của bà kế mẫu Ma Ha Ba Xà Ba Đề (Mahaprajapati) vì hoàng hậu Maya từ trần, cảnh thái tử xin phép vua cha Tịnh Phạn (Suddhodana) được đi dạo trong kinh thành Ka Tì La Vệ (Kaplilavastu),…(Chutiwongs 2011: 13-17).

Khu III là một tu viện lớn dành cho sinh hoạt của tu sĩ trong Phật viện bao gồm việc giảng Pháp và hành lễ trước pho tượng của đức Phật tương lai Di Lặc (?), vì vậy nó là một kiến trúc mở không có tường để tiện cho chư tăng và tín đồ lễ lạc. Về phía Đông của Khu III là một tháp – cổng chính, có kích thước lớn, mở lối vào tự viện và Phật đường của hoàng gia. Xung quanh tự viện có hai hàng bảo tháp (stupa) nằm trong tường bao.

Kiến trúc của tu viện Đồng Dương bộc lộ sự phát triển hoàn chỉnh của kỹ thuật cấu trúc đền – tháp Chăm – pa với những ảnh hưởng mới tiếp thu từ các nền nghệ thuật láng giềng, và có thể của vùng Nam Ấn. Những xu hướng mới này đã góp phần cách tân kỹ thuật xây dựng mà cụ thể là việc kết hợp thành thạo những bộ phận chịu lực bằng sa thạch với tường và mái tháp bằng gạch trong cùng một công trình. Kỹ thuật xây dựng này đã được kế thừa và phát triển toàn mỹ hơn trong các giai đoạn kiến trúc đền – tháp kế tiếp từ đầu thế kỷ 10 trở đi.

Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Lê Hoàn đã đem quân tiến chiếm kinh đô Chiêm Thành vào năm 892. Sau khi Lê Hoàn rút quân về Hoa Lư, một vị quản giáp của ông tên là Lưu Kế Tông/Lưu Kỳ Tông đã trốn ở lại Chiêm Thành và tự xưng vương để cai trị vương quốc; người mà về sau Lê Hoàn đã sai một người con của mình giết chết. Lưu Kế Tông/Kỳ Tông đã thống trị vương quốc Chiêm Thành/Chăm – pa bằng một chính sách cực kỳ hà khắc, mà các nhân chứng đương thời là các thương nhân Ả Rập đã kể lại rằng:

“Abu Dulaf nói rằng: vào thời kỳ đó, tôi đang ở Ấn Độ (khoảng giữa thế kỷ thứ 10), vị vua cai trị Chămpa tên là Lagin. Nhà sư Nadjran nói với tôi rằng, trong thời kỳ này (từ 980 đến 986), vua [của ChămPa] là một vị vua xưng là Quốc vương Lukin [Lưu Kỳ], kẻ đã chiếm cứ Chămpa, cướp phá vương quốc và nô dịch tất cả thần dân.” (Ferrand 1913: 123)

Niên đại và danh xưng của vị vua và những biến cố lịch sử mà các nhà du hành Ả Rập đã ghi chép hoàn toàn phù hợp với các dữ kiện lịch sử mà sử sách Đại Việt đã nêu lên.

Chính sách cai trị hà khắc của Kỳ Tông tại vùng Amaravati cũng có thể nhìn thấy rõ qua một số lượng lớn văn bia của Mỹ Sơn, có niên đại từ thế kỷ thứ 8 đến thứ 10, bị đục xóa một cách cẩn thận dưới thời cai trị của ông (Trần Kỳ Phương 1993). Như vậy các chứng cứ lịch sử đã xác định rằng cuộc khởi binh tiến chiếm Chiêm Thành/Chămpa của Lê Hoàn năm 982, khởi đầu cho những cuộc chiến tranh giữa Đại Việt và Chiêm Thành sau này, đã xảy ra tại vùng Quảng Nam ngày nay và chính Phật viện Đồng Dương đã bị tàn phá trong cuộc chiến ấy.

Dấu vết của cuộc tàn phá khủng khiếp đó còn lưu lại rất rõ tại di tích Đồng Dương và nó đã được Parmentier làm sáng tỏ khi ông tiến hành cuộc khai quật khảo cổ học tại đây vào năm 1902. Parmentier xác nhận rằng, Phật đường hoàng gia đã bị cướp phá một cách hệ thống, và đã bị phá hủy bởi một trận hỏa hoạn khổng lồ. Ông phát hiện rằng các bức tường của Phật đường đã bị cháy đổ, những lanh-tô/đà cửa bằng đá bị gãy đổ vì lửa cao, và một số pho tượng hoặc đã bị cháy đen vì lửa hoặc bị hủy hoại bằng khói. Ông cũng phát hiện vết tích của một mảnh tượng apsara – vũ nữ thiên tiên bị cháy thành than, ông cho rằng pho tượng này đã bị kéo đổ xuống từ đài thờ chính của Phật đường. Những phát hiện quan trọng khác từ trong chánh điện của Phật đường bao gồm nhiều pho tượng đá và nhiều phần của đài thờ chính bị đập phá tuy nhiên một số không có dấu vết của lửa. Mục đích của những kẻ phá hủy dường như muốn hủy diệt toàn bộ Phật viện. Parmentier đã kết luận ngay sau cuộc khai quật rằng Phật viện này đã bị bỏ phế sau khi nó hoàn toàn bị tàn phá (Parmentier 1909: 446).

Tuy nhiên, một dịp may lớn đã đến với nghệ thuật Chàm vào năm 1978 khi nhân dân trong làng Đồng Dương tình cờ phát hiện một pho tượng đồng lớn đã được chôn giấu ngay tại di tích. Việc phát hiện pho tượng này tại vị trí cách tháp – cổng Khu I khoảng 50 mét về phía Nam góp thêm phần khẳng định Phật viện Đồng Dương đã bị cướp phá trong cuộc chiến với Lê Hoàn vào năm 982 như kết quả khảo cổ học trước đây từng chứng minh. Chúng ta có thể suy luận rằng, pho tượng bằng đồng quý giá này đã được chôn giấu cẩn thận trước khi Phật đường chính bị cướp phá trong cuộc tấn công vào Đồng Dương, nó phù hợp với những gì Parmentier đã tường thuật ở trên khi ông khai quật Phật đường này.

PHO TƯƠNG BỒ TÁT BẰNG ĐỒNG PHÁT HIỆN TẠI DI TÍCH ĐỒNG DƯƠNG NĂM 1978 VÀ Ý NGHĨA TÍN NGƯỠNG CỦA NÓ

Kể từ khi được phát hiện vào năm 1978, tại di tích Đồng Dương, thuộc làng Đồng Dương, xã Bình Định Bắc, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, pho tượng bồ – tát bằng đồng này, cho đến nay, đã được đề cập ở nhiều công trình nghiên cứu (Trần Kỳ Phương 1979, Ngô Văn Doanh 1980, Boisselier 1984, Trian Nguyen 2005, Baptiste 2005).

 

Laksmindra – Lokesvara

Tác giả cùng cụ Nguyễn Xuân Đồng, cựu quản thủ Cổ viện Chàm (tên gọi cũ của BTĐKC-ĐN) từ 1938-1965, là những người đã tham gia trực tiếp vào đoàn công tác tổ chức việc di chuyển pho tượng quý giá này từ UBND huyện Thăng Bình về Ty Văn hóa Thông tin Quảng Nam – Đà Nẵng ngay sau khi tượng được phát hiện vào mùa Thu năm 1978; và những năm sau đó, tác giả cùng các đồng nghiệp khác đã nhiều lần trở lại địa bàn của di tích Đồng Dương để tìm hiểu thêm về việc phát hiện pho tượng.

Pho tượng được phát hiện bởi một nhóm dân làng Đồng Dương sống cạnh khu di tích khi họ lên tháp đào bới gạch để về làm sân phơi và chuồng nuôi gia súc. Ngay sau khi phát hiện, do nghi ngờ rằng đây là một pho tượng đúc bằng vàng nên cư dân địa phương đã bẻ gãy những ngón tay của hai bàn tay và hai vật cầm tay (pháp khí) để đem đi thử vàng nhưng sau này chính quyền sở tại đã thu hồi lại được; cho nên, khi pho tượng được chuyển về Ty Văn hóa Thông tin Quảng Nam – Đà Nẵng thì không có hai vật cầm tay.

 

Vật cầm tay của Laksmindra – Lokesvara. Ảnh: Nguyễn Thượng Hỷ.
Theo Nhà Nghiên cứu Nguyễn Thượng Hỷ thì vật cầm tay là con ốc và hoa sen nở. hai hiện vật này vẫn được Chủ tịch xã Bình Định Bắc, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam cất giữ

Hai vật cầm tay (pháp khí) này là một đóa sen và một con ốc; đóa sen được cầm ở bàn tay phải, vẫn còn một phần cuống sen trong lòng bàn tay; còn con ốc được cầm ở bàn tay trái, vẫn còn giữ được một phần hình miệng ốc trong lòng bàn tay. Đóa sen (padma) có năm cánh, rộng 4 cm và dài 4 cm. Đây là pháp khí rất phổ biến ở các tượng bồ – tát Quán Thế Âm của nghệ thuật Chàm dù tượng có hai tay hoặc bốn tay (ở những tượng có hai tay thì tay phải cầm hoa sen còn tay trái thường cầm bình nước cam-lồ [kamandalu]). Con ốc (sankha) dài 7 cm và đường kính khoảng 10 cm, con ốc này được chế tác dựa theo mẫu hình của một loại ốc nhỏ thường thấy ven biển miền Trung Việt Nam khác với những hình ốc to lớn thường thấy trong tay của các tượng thần Visnu trong nghệ thuật Ấn Độ giáo của Chămpa cũng như Khmer và Java. Xét về mặt tiếu tượng học (iconography), hai pháp khí của tượng là đóa sen và con ốc đã chỉ ra sự hổn hợp tín ngưỡng giữa Phật giáo và Visnu giáo từng được thể hiện trên vài pho tượng bồ – tát Quán Thế Âm (hai tay và bốn tay); những ngẫu tượng như thế rất hiếm khi tìm thấy tại Nam Á cũng như Đông Nam Á. Pho tượng Laksmindra – Lokesvara này cũng là pho tượng Quán Thế Âm nữ thân duy nhất cầm đóa sen và con ốc đã xuất hiện trong nghệ thuật Đông Nam Á, trong khi, những tượng Lokesvara có pháp khí tương tự được phát hiện trong vùng đều là nam thân (Trian Nguyen 2005: 28-31).

Danh hiệu của pho tượng cũng được gọi bằng các tên khác nhau như Tara (Boisselier 1984: 319-37; Baptiste 2005: 210-11) và Laksmindra – Lokesvara (Trần Kỳ Phương 1987:73-80; Trian Nguyen 2005: 9-12). Về danh hiệu Tara, Boisselier đã dựa trên các phân tích về tiếu tượng học và phong cách học nghệ thuật của pho tượng, chẳng hạn, tư thế hai tay đưa thẳng về phía trước của pho tượng; đồng thời so sánh nó với các pho tượng Tara đã phát hiện trong vùng. Ông cũng nêu lên rằng pho tượng Tara này là một trong bốn pho tượng Tara trấn giữ bốn hướng của Phật điện chứ nó không phải là ngẫu tượng chính của Phật viện. Tuy nhiên một điều cần được lưu ý, đó là, trong văn khắc Phật giáo Chămpa không hề xuất hiện danh hiệu Tara; và khi Boisselier nghiên cứu pho tượng này vào năm 1984, ông đã không được biết nó thủ hai pháp khí là đóa sen và con ốc (Boisselier 1984: 319-37). Dựa trên nghiên cứu của Boisselier nhiều tác giả khác cũng đã định danh cho pho tượng này là Tara mặc dầu vẫn còn đặt nghi vấn (Baptiste 2005: 210-11; Guy 2011: 313-15).

Về danh hiệu Laksmindra – Lokesvara, trong một chuyên khảo về pho tượng này, Trian Nguyen đã chứng minh một cách thuyết phục rằng danh hiệu của pho tượng là Laksmindra-Lokesvara dựa trên phân tích chi tiết những yếu tố tiếu tượng học, đó là pho tượng Phật nhỏ ngồi trên tóc của Bồ tát chính là Phật Thích Ca (Sakyamuni) ngồi dưới rắn Muchalinda có bảy đầu, chứ không phải là tượng Phật A Di Đà (Amitabha) như của các hình tượng Quán Thế Âm khác. Hai pháp khí hiếm hoi là đóa sen cùng với con ốc là sự phối hợp giữa Phật giáo và Ấn Độ giáo (Hindu) của pho tượng, trùng hợp với danh hiệu của Phật viện được nêu lên trong bi ký của vua Jaya Indravarman II dựng tại Đồng Dương, là bày tỏ lòng tôn kính đến “Laksmindra – Lokesvara”. Laksmindra là phần đầu phương danh của đức vua Jaya Indravarman II: Laksmindra – Bhumisvara – Gramasvamin. Như vậy danh hiệu “Laksmindra – Lokesvara có thể được hiểu rằng Bồ tát Quán Thế Âm (Lokesvara) được thờ phượng để hộ trì cho đức vua Laksmindra – Bhumisvara – Gramasvamin” (Trian Nguyen 2005:12). Do những phẩm chất đặc biệt của pho tượng nên nó được nhận định là ngẫu tượng chính của Phật viện (vihara) Đồng Dương, được thờ trong chánh điện của Phật điện hoàng gia (Trần Kỳ Phương 1987: 73-80); pho tượng đã được dựng bởi chính tay đức vua Jaya Indravarman II và cũng được chính ngài dâng lễ thánh hóa, vào năm 875, được nhấn mạnh trong minh văn của đức vua:

“Và trong việc tạo dựng pho tượng Quán Thế Âm siêu việt và lỗi lạc này, được hiển sinh từ sự truyền thừa của chư Phật, ta sẽ cúng dường cho sự giải thoát [của chúng sinh] trên thế giới.
Ước nguyện được học hỏi về Pháp, đức vua chánh niệm trong tâm của ngài, được trải nghiệm và liễu ngộ căn nguyên của chân lý tối thượng, ngài đã dựng pho tượng Quán Thế Âm này bằng chính tay của ngài.

Mặc dù ngài đã dâng lễ thánh hóa pho tượng Quán Thế Âm, rực rỡ với tất cả pháp khí bảo vật bằng vàng, ngài không hề cảm thấy tự hào về công đức của mình. Ngài là người thuần đạo, ngài đã không thực hành ngoại giáo, những điều không được ghi chép trong kinh điển”. (Majumdar 1985: III, 74-88).

Để bàn thêm về tín ngưỡng của pho tượng, chúng ta cần chú trọng đến hai vật cầm tay rất đặc thù của Laksmindra-Lokesvara, thể hiện truyền thống Mật tông (Tantism) của Phật giáo Chămpa. Dựa theo bia ký chúng ta biết rằng Phật giáo Mật tông của Chămpa thuộc tông phái Kim Cương Thừa (Vajrayana) ca ngợi triết lý Tánh Không (Sunyo) của tông phái này (Majumdar 1985: III, 107-09). Kim Cương Thừa xuất phát từ miền Đông Ấn đã được truyền bá đến Đông Nam Á theo con đường hải thương và rất phổ biến tại vùng này từ thế kỷ 8 trở đi (Guy 2011:308-09).
Tượng Laksmindra – Lokesvara là một trong hai pho tượng Phật giáo bằng đồng lớn nhất của nghệ thuật Chămpa và là pho tượng đồng duy nhất mang những đặc trưng về thủ pháp tạo hình cũng như những đặc trưng về tiếu tượng học của nền nghệ thuật Phật giáo Chămpa mà đặc biệt là Phong cách Đồng Dương. Sự xuất hiện cùng một lúc hai pho tượng Phật giáo bằng đồng to lớn tìm thấy ngay tại di tích cũng như kiến trúc to lớn của Phật viện đã phản ảnh sự phát triển rực rỡ về kinh tế, chính trị, văn hóa của triều đại Indrapura của vương quốc ChămPa đương thời.

Xét về thủ pháp tạo hình và phong cách nghệ thuật, khi so sánh pho tượng Laksmindra – Lokesvara với pho tượng Phật đứng, hiện trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại Tp Hồ Chí Minh, chúng ta thấy có sự khác biệt lớn. Pho tượng Phật mang phong cách nghệ thuật Nam Ấn, gọi là trường phái Anuradhapura, có niên đại khoảng thế kỷ thứ 8-9; và được phổ biến rộng rãi ở toàn vùng Nam Ấn cũng như ở Đông Nam Á (Zéphir 2005: 207-09); có thể pho tượng Phật này đã được du nhập vào Chămpa trong thời kỳ hưng thịnh của Phật giáo ở Đông Nam Á dưới ảnh hưởng của vương quốc Sri-Vijaya (Indonesia) khoảng thế kỷ 8 (Guy 2011: 306-09). Trái lại, chúng ta có thể thấy rõ pho tượng Laksmindra – Lokesvara mang hoàn toàn yếu tố nghệ thuật đặc thù của Chămpa và được chế tác tại bản xứ khi so sánh nó với các pho tượng tròn bằng sa thạch được chế tác cùng một thời kỳ, chẳng hạn, pho tượng bồ-tát Prajnaparamita (Trí Độ Bát Nhã) và Lokesvara (Đại Hữu, Quảng Bình; sưu tập BTĐKC-ĐN), hoặc nữ thần Durga Mahisarura-mardini (Nữ thần Durga giết Quỷ đầu trâu) (Bích La, Quảng Trị; sưu tập Bảo tàng Lyon, Pháp) bằng sa thạch có mẫu hình tương tự được chế tác đương thời ngay tại ChămPa (Boisselier 1963: 130-31; Baptiste 2005: 234-35).

Tuy nhiên, xét về kỹ thuật đúc tượng đồng thì pho tượng Laksmindra – Lokesvara vẫn còn nhiều nghi vấn cần được làm sáng tỏ. Trước hết, để đúc một pho tượng đồng có kích thước lớn đòi hỏi phải có truyền thống kỹ thuật lâu dài và nguyên liệu đồng tốt; bởi vì miền Trung Việt Nam không có mỏ quặng đồng, hầu hết nguyên liệu đồng đều được nhập khẩu mà chúng ta có thể biết rõ qua các ghi chép lịch sử về việc nhập khẩu nguyên liệu đồng từ Trung Hoa và Nhật Bản đến miền Trung Việt Nam (Hội An) trong thế kỷ 17. Hơn nữa, gần đây các nhà lịch sử nghệ thuật Đông Nam Á cũng chỉ ra rằng, hầu hết các pho tượng Phật giáo Đại thừa (Mahayana), bao gồm tượng Phật và tượng bồ-tát (Quán Thế Âm/Avalokitesvara và Di Lặc/Maitreya) bằng đồng, có kích thước vừa và nhỏ, niên đại từ thế kỷ thứ 8-10, đều được chế tác tại các vương quốc Nam Chiếu (Nan Chao) hoặc Đại Lý (Dali) ở vùng Vân Nam và được xuất khẩu sang các vương quốc Phật giáo ở Đông Nam Á đương thời (Guy 2011: 318-19; Chutiwongs 2005: 68-74). Vì thế, chúng tôi muốn nêu một giả thuyết là, có khả năng, pho tượng Laksmindra – Lokesvara đã được chế tác tại Chămpa nhưng bởi các kỹ thuật viên ngoại quốc cùng với nguyên liệu đồng được nhập khẩu (?!). Sở dĩ chúng tôi đặt vấn đề này là để nêu lên rằng, đương thời, vương quốc Chămpa đã có mối quan hệ rộng rãi với các vương quốc khác ở trong vùng tây – bắc bán đảo Đông Dương và ở phía nam Trung Hoa trên nhiều lãnh vực về kinh tế và văn hóa. Mối quan hệ này được kết nối bằng những con đường bộ qua các trung tâm kinh tế – chính trị được gọi là mường và/hoặc qua các bản làng của các sắc tộc thiểu số hiện nay vẫn còn sinh sống ở miền Hạ Lào và Tây Nguyên Việt Nam (Trần Kỳ Phương và cộng sự 2012).

Dựa theo bia ký và các tác phẩm nghệ thuật, vương triều Phật giáo Indrapura đã thống lĩnh lãnh thổ Bắc Chămpa từ vùng Quảng Bình cho đến Quảng Ngãi và Kon Tum hiện nay. Các vị vua triều Indrapura đã xưng là maharajadhiraja (đại vương của [các] vua) (Majumdar 1985: III, 87). Sự thống nhất về phong cách nghệ thuật của một số lớn tượng đồng tìm thấy rải rác trong khắp vương quốc; cũng như một số lượng lớn tượng sa thạch có kích thước to lớn của nền điêu khắc cùng với sự cải tiến và hoàn thiện kỹ thuật cấu trúc trong nền kiến trúc đền – tháp của Phật viện Đồng Dương là những chứng cứ cho sự phát triển toàn diện và đã đạt đến đỉnh cao về kinh tế và văn hóa của vương triều Indrapura. Sử liệu Trung Hoa cũng thường xuyên đề cập đến vương quốc ChămPa trong thời kỳ này với danh hiệu Hoàn Vương (Huan Wang) và cho biết những mối giao thương mật thiết giữa Chămpa với các triều đại Trung Hoa (Momoki 2011: 120-37).

Về vị trí bài trí pho tượng tại Phật đường hoàng gia của Phật viện cũng được đề cập với nhiều giả thiết là, pho tượng được đặt trên một bệ thờ vuông bằng sa thạch rồi bài trí trên đài thờ lớn trong chánh điện của Phật đường (Ngô Văn Doanh 1980: 195-96; Trian Nguyen 2005: hình 14). Tuy nhiên, nhân dịp trưng bày lại Phòng Đồng Dương vào năm 2011, theo kiểm tra của chính tác giả và của ban quản lý BTĐKC-ĐN, thì, bề mặt của cái bệ vuông này hoàn toàn bằng phẳng, không có vết lỗ đục để giữ chốt của đế tượng. Trong nghệ thuật Chàm, thông thường, những pho tượng thần chủ bằng hợp kim thờ trong chánh điện đều được gắn vào một tòa sen ở dưới chân tượng (gắn liền phần chốt đế) trước khi được đặt lên bệ thờ. (Có thể so sánh với pho tượng Phật bằng đồng đứng trên tòa sen của Phật viện Đồng Dương đã được nêu trên. Như vậy, có thể suy luận rằng pho tượng Laksmindra – Lokesvara đã được đặt trên một tòa sen lớn cũng bằng hợp kim trước khi đặt lên bệ thờ vuông bằng sa thạch, như đề cập ở trên, rồi được bài trí lên trên đài thờ lớn (ký hiệu: 22.24a, BTĐKC-ĐN) trong chánh điện của Phật đường hoàng gia.

Về y phục và đồ trang sức của pho tựơng, chúng ta cũng có thể biết rằng tượng được khoác thêm trang phục gồm áo và sa-rông bằng tơ lụa/vải và các đồ trang sức quý như miễn trên tóc, hoa tai, vòng ngực, vòng cánh tay, chân, trong các dịp tế lễ theo nghi thức Phật giáo Mật tông được tổ chức tùy theo từng thời điểm hằng năm nhằm phục vụ cho hoàng gia của triều đại Indrapura. 
Pho tượng Laksmindra – Lokesvara là một chứng cứ tốt để tìm hiểu đặc tính của nền nghệ thuật Phật giáo Chămpa đương thời bao gồm giáo pháp, tín ngưỡng, phương pháp thực hành; nêu lên những đóng góp về tính chất đặc thù của tiếu tượng học Phật giáo và phẩm chất thẩm mỹ Chămpa vào nghệ thuật Đông Nam Á đương thời. Nó cũng bộc lộ mối giao lưu rộng rãi về kỹ thuật chế tác tượng đồng ở trong vùng cũng như góp phần khẳng định vai trò nổi bật của vương quốc Chămpa trên con đường giao thương trên biển và trên bộ.

Mặc dù di tích Phật viện Đồng Dương đã bị tàn phá nặng nề, chỉ còn lại đôi chút vết tích của một công trình từng là cơ sở kiến trúc Phật giáo đồ sộ nhất của vùng Đông Nam Á, tuy nhiên dưới lòng đất của phế tích này hẳn phải còn ẩn chứa nhiều tác phẩm điêu khắc quan trọng, mà, việc phát hiện pho tượng đồng Laksmindra – Lokesvara là một bằng chứng sinh động. Trước kia, Parmentier đã thừa nhận rằng, do những hạn chế về thời gian nên ông và các đồng nghiệp phải kết thúc cuộc khai quật tại Đồng Dương vào tháng 11 năm 1902, trước khi mùa mưa đến; vì vậy, ông đã không thể ghi chép được tất cả các công trình đã tạo nên khu đền – tháp quan trọng này, cho nên hiện nay chúng ta chỉ có thể biết được sơ lược về Phật viện Đồng Dương (Parmentier 1909: 439).

Trong tương lai, khi hội đủ điều kiện, chúng ta có thể tiến hành một cuộc khai quật khảo cổ học toàn diện và quy mô trên phạm vi di tích đã được xác lập hiện nay. Cuộc khai quật đó chắc chắn sẽ phát lộ phần chân tháp của các Khu I, Khu II và Khu III, và chúng sẽ được bảo tồn để giúp cho các học giả và du khách hình dung được tầm vóc kỳ vĩ của di tích nổi tiếng này. Ngoài ra, các tác phẩm điêu khắc bị vùi lấp chắc chắn sẽ được phát hiện trong các cuộc khai quật tương lai, chúng sẽ bổ sung cho những bộ sưu tập phong phú của nghệ thuật Đồng Dương, một phần hiện được trưng bày tại các bảo tàng lớn trong nước và quốc tế. Những phát hiện mới đó sẽ góp phần nới rộng giới hạn hiểu biết hiện nay về một nền nghệ thuật độc đáo và phong phú nhất của vương quốc Chiêm Thành/Chămpa trong mối liên hệ mật thiết với các vương quốc đương thời ở Đông Nam Á. Và, hơn nữa, dựa trên kết quả của những cuộc khai quật trong tương lai, chúng ta có khả năng phục dựng Phật viện này trở thành một nơi hành hương lý tưởng cho các Phật tử vì đây là một trong vài Phật viện được thành lập sớm nhất của Phật giáo Việt Nam.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *