Sự đại diện căn cước tộc người Chăm qua một lễ hội văn hóa do nhà nước tổ chức

Lư Thị Thanh Lê

Người Chăm từng là tộc người chủ thể của vương quốc Chămpa vốn tồn tại ở khu vực miền Trung Việt Nam khoảng hơn hai trăm năm về trước. Qua các biến chuyển lịch sử, từ một tộc người là chủ nhân của vương quốc Chămpa, ngày nay, người Chăm đã trở thành công dân của nước Việt Nam, và là một tộc người thiểu số trong lòng một quốc gia thống nhất đa dân tộc. Để xác lập các mô hình căn cước, ý thức thuộc về của người Chăm hiện nay, chúng tôi cho rằng cần phải tìm hiểu căn cước của người Chăm được đại diện (represented) như thế nào bởi nhà nước và bởi người chính người Chăm, trong các bối cảnh khác nhau. Dựa trên quan điểm cho rằng sự đại diện căn cước tộc người thiểu số được thực hiện bởi nhà nước (đặc biệt là trong các buổi trình diễn nghệ thuật, các sự kiện văn hóa đại chúng) có ảnh hưởng lớn trong việc tạo nên hình ảnh của tộc người đó trước công chúng, trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung tìm hiểu sự đại diện căn cước của người Chăm trong bối cảnh một lễ hội văn hóa Chăm do nhà nước tổ chức, cụ thể là trong sự kiện Ngày hội văn hóa, thể thao và du lịch vùng đồng bào dân tộc Chăm, gọi tắt là Ngày hội, diễn ra tại Ninh Thuận năm 2012. Với những dữ liệu thực chứng và các tài liệu truyền thông của nhà nước về/trong Ngày hội này, chúng tôi phân tích những xu hướng nhà nước khai thác, huy động căn cước tộc người Chăm cho những mục tiêu chính trị, kinh tế của mình, đồng thời đưa ra nhận định về quá trình nhận đồng tộc người (ethnic identification process) của người Chăm thể hiện trong bối cảnh lễ hội văn hóa do nhà nước tổ chức.

Trước hết, có thể khẳng định rằng tính dân tộc (ethnicity) và chủ nghĩa dân tộc (nationalism) là những vấn đề gây tranh cãi hàng đầu ở nhiều quốc gia trong thế giới đương đại. Trong các quốc gia đa tộc người, việc căn cước tộc người được đại diện, thể hiện như thế nào có vai trò hết sức quan trọng đối với mỗi tộc người, đặc biệt là đối với các tộc người thiểu số, bởi vì những hình ảnh đại diện này sẽ giúp định hình nhận thức của những người bên ngoài về tộc người này. Sự đại diện căn cước tộc người thưởng có sự kết hợp của hai quá trình: quá trình từ trên xuống (top down process) được thực hiện bởi nhà nước và quá trình từ dưới lên (bottom up process) bởi chính những người dân thuộc cộng đồng thiểu số.

Căn cước tộc người, mà ở nước ta thường được gọi là bản sắc tộc người hay bản sắc dân tộc, không thể chỉ được xem như một tập hợp của những yếu tố tĩnh tại, bất biến, mà căn cước này phải được xem xét như một cấu trúc động, gắn với những quá trình, có thể được gọi là quá trình nhận đồng (identification proccess). Căn cước của tộc người thiểu số có tính chất “tình huống” (situational) và “tương quan” (relational). Nó thích ứng với từng bối cảnh cụ thể và biến đổi theo các quan hệ cụ thể. Sự tạo dựng căn cước tộc người thiểu số được thực hiện trong các sự kiện do nhà nước tổ chức có vai trò quan trọng tạo nên hình ảnh của tộc người đó trước công chúng bên ngoài, và đồng thời cũng ảnh hưởng tới sự tự nhận thức về mình của các thành viên thuộc cộng đồng thiểu số. Sự đại diện căn cước tộc người và sự nhận đồng tộc người luôn là những sự thương lượng (negotiation) trong những bối cảnh khác nhau, giữa tộc người thiểu số và tộc người đa số, giữa tộc người thiểu số và nhà nước, chính thể đại diện. Khi nghiên cứu về các khuynh hướng nhận đồng tộc người của người dân thiểu số trong một cộng đồng chủ thể, Phinney cho rằng người dân tộc thiểu số có những xu hướng nhận đồng hoặc là về tộc người của mình, hoặc là về tộc người đa số (thường cũng chính là chính thể đại diện cho cộng đồng quốc gia mà những người thiểu số này tham gia vào) với những mức độ mạnh, yếu khác nhau.

Khuynh hướng nhận đồng về

tộc người của mình

Khuynh hướng nhận đồng về

tộc người đa số

Mạnh Yếu
Mạnh Tích hợp

(Integrated)

Bị đồng hóa (Assimilated)
Yếu Tách biệt (Separated/ Dissociated) Ở ngoài rìa (Marginal)

Theo Phinney, nếu người dân tộc thiểu số có khuynh hướng nhận đồng về tộc người mình một cách mạnh mẽ, đồng thời cũng nhận đồng mạnh mẽ với tộc người đa số thì người đó có căn cước thuộc dạng “tích hợp” (integrated). Nếu người  đó có khuynh hướng nhận đồng về tộc người mình mạnh mà ít nhận đồng về phía tộc người đa số thì anh ta có căn cước “tách biệt”. Nếu anh ta có xu hướng nhận đồng về phía tộc người chủ thể mạnh mà ít nhận đồng về phía tộc người của mình thì anh ta có căn cước “bị đồng hóa”. Nếu khuynh hướng của anh ta không thuộc về cộng đồng tộc người, cũng không thuộc về cộng đồng đa số thì anh ta có căn cước thuộc loại “ở ngoài rìa” của cả cộng đồng tộc người cũng như cộng đồng chủ thể.

Những cơ sở lý thuyết ở trên là nền tảng để chúng tôi tiếp cận căn cước, sự nhận đồng tộc người của người Chăm Việt Nam. Những khảo sát, phân tích của chúng tôi là nhằm xác định những khuynh hướng nhận đồng tộc người của người Chăm trong bối cảnh của sự kiện văn hóa có sự chi phối, chỉ đạo trực tiếp của nhà nước. Mục tiêu mà chúng tôi hướng tới là tìm hiểu xem: Sau hơn hai trăm năm sau khi nước Chămpa chính thức biến mất trên bản đồ, sau một quãng thời gian người Chăm từ một cộng đồng đa số, chủ thể của một vương quốc trở thành một cộng đồng thiểu số trong đất nước Việt Nam thống nhất đa dân tộc (mà chủ thể là người Kinh) thì sự nhận đồng của họ về tộc người và về quốc gia được thể hiện như thế nào?; Họ mang căn cước tích hợp, riêng rẽ, bị đồng hóa, hay ở ngoài rìa? Tuy nhiên, đây không phải là bức tranh tổng thể về quá trình nhận đồng tộc người của người Chăm, mà chỉ là một góc nhìn về nó, dựa trên những gì mà chúng tôi quan sát thực tế trong sự kiện công cộng do nhà nước tổ chức ở vùng của người Chăm.

Xét từ góc độ nhà nước, hay nhìn vào quá trình đại diện căn cước tộc người theo chiều top down (từ trên xuống), Việt Nam, một quốc gia đa tộc người, có rất nhiều vấn đề phức tạp về việc đại diện căn cước của các tộc người thiểu số. Làm thế nào Nhà nước có thể đại diện căn cước tộc người thiểu số một cách chính xác nhất, phù hợp nhất với những gì họ (những người thiểu số) muốn thể hiện về mình, nhưng đồng thời cũng duy trì được những lợi ích quốc gia, những lợi ích của cộng đồng đa số, đó là một câu hỏi mà trong rất nhiều trường hợp rất khó tìm được câu trả lời. Nói riêng về lễ hội văn hóa, có thể thấy rằng, sau một thời gian hạn chế các lễ hội, nghi lễ truyền thống của các dân tộc thiểu số vì những lo ngại về mê tín dị đoan, những hủ tục lạc hậu thì trong nhiều thập niên gần đây, bên cạnh việc cho phép các tộc người thiểu số khôi phục, bảo tồn các lễ hội truyền thống, Nhà nước Việt Nam cũng sử dụng các lễ hội văn hóa như một phương tiện chiến lược để bảo tồn, phát huy văn hóa truyền thống, củng cố nhận thức mang tính chính thống của nhà nước về căn cước của các tộc người thiểu số. Các lễ hội văn hóa là nơi biểu đạt sự đại diện về căn cước tộc người được công nhận, hợp thức hóa bởi nhà nước. Các lễ hội này thường góp phần tuyên truyền tư tưởng về một quốc gia “thống nhất đa dân tộc”, trong đó các dân tộc thiểu số và đa số được xem như là những người “anh em”, “đồng bào”. Ngày hội Văn hóa, thể thao, du lịch vùng đồng bào Chăm – Ninh Thuận 2012 thể hiện rất rõ diễn ngôn về tư tưởng xây dựng quốc gia thống nhất đa dân tộc của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Theo thông cáo báo chí của Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch, việc tổ chức Lễ hội này là nhằm “xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc” và “bảo tồn, phát huy văn hóa của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam”, và “góp phần tăng cường tình đoàn kết, giao lưu, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm bảo tồn, phát triển văn hoá, thể thao và du lịch vùng đồng bào dân tộc Chăm”. Nhà nước cũng có quy định rằng việc tổ chức lễ hội này “phải thiết thực, tiết kiệm, phù hợp, tôn trọng phong tục tập quán của các dân tộc, không áp đặt; kết hợp hài hoà giữa bảo tồn, phát huy văn hoá dân tộc Chăm và phát triển du lịch, kinh tế-xã hội của địa phương; có sự tham gia trực tiếp của chủ thể văn hoá, đặc biệt là các nhà nghiên cứu văn hoá Chăm, nhân sỹ, trí thức dân tộc Chăm. Các hoạt động phải thể hiện rõ nét bản sắc văn hóa của đồng bào Chăm…”[1]. Nhìn chung, qua các diễn ngôn của nhà nước, có thể nhận thấy rõ nỗ lực của các cơ quan, ban ngành trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc Chăm và mong muốn huy động những giá trị văn hóa Chăm để phát triển kinh tế, du lịch ở địa phương cũng như của cả nước.

Cụ thể hóa mục tiêu nói trên, để tăng tính xác thực (authenticity) của bản sắc Chăm trong Ngày hội, các nhà tổ chức đã chọn địa điểm tổ chức lễ hội ở dưới chân tháp Po Klong Girai, một trong những tháp Chăm nổi tiếng gắn bó mật thiết với đời sống của người Chăm ở Ninh Thuận; sử dụng các bài hát và các nhạc cụ truyền thống của người Chăm; sử dụng tiết mục múa vũ nữ Apsara – hình ảnh rất hay gặp trong điêu khắc Chăm, và quy định những nghệ sĩ biểu diễn phải là người Chăm.

Ảnh 1. Sân khấu của Ngày hội Văn hóa, thể thao và du lịch vùng đồng bào Chăm – Ninh Thuận 2012 dưới chân tháp Poklong Girai (Ảnh của tác giả bài viết, 2012)

Theo lời ông Đinh Trung Cẩn – đạo diễn chương trình khai mạc và bế mạc ngày hội: “Hơn 1000 nghệ sĩ và các chức sắc tôn giáo Chăm tham dự vào lễ hội này, nhằm tái hiện rõ nét bản sắc văn hóa của đồng bào Chăm và đồng thời thể hiện các hoạt động văn hóa tốt đẹp và tiến bộ của cộng đồng”[2] Như vậy, việc đại diện căn cước Chăm trong ngày hội này chịu đồng thời hai áp lực: miêu tả “nét Chăm” chân thực, chính xác nhất, và đồng thời cũng phải hướng tới những mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế, du lịch, củng cố cộng đồng thống nhất đa dân tộc. Diễn ra vào cùng thời điểm với lễ Ka tê – một trong những lễ hội truyền thống lớn nhất của người Chăm, Ngày hội văn hóa này được các nghệ sĩ, các nhà văn hóa được huy động từ trung ương và địa phương cấu trúc gồm ba phần: “Tỉnh Ninh Thuận và Lễ hội Ka tê chào đón bạn bè”; Niềm vui ngày hội”; “”Sắc màu Chăm và những sắc màu văn hóa”. Cấu trúc chương trình đã thể hiện rõ mục tiêu huy động căn cước, bản sắc văn hóa tộc người phục vụ cho các mục tiêu kinh tế, chính trị của nhà nước.  Đây là một chương trình được công diễn để phục vụ du khách và thu hút du khách đến với vùng văn hóa của người Chăm, và được phát sóng trực tiếp trên các đài truyền hình trung ương và địa phương, để giới thiệu vùng văn hóa Chăm tới người dân khắp cả nước. Qua phát biểu của ông Phan Quốc Anh, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể Thao và Du lịch Ninh Thuận (2012) [3], có thể nhận thấy việc giới thiệu những nét văn hóa Chăm nhằm hướng tới bảo tồn ở đây thực chất là một sự “bảo tồn có chọn lọc” (selective preservation), theo những tiêu chí của nhà nước, với những nét được xem là “thuần phong mỹ tục”, “tiến bộ”, “lành mạnh” theo quan điểm của nhà nước. Những  “nét đẹp” trong văn hóa của người Chăm được xác định và được quảng bá qua chương trình đó là: những tháp Chăm, những tiết mục biểu diễn văn nghệ dân gian, sản phẩm gốm truyền thống, nghề dệt thổ cẩm, và những nét Chăm này được huy động để trở thành các sản phẩm thương mại, sản phẩm dịch vụ phục vụ cho việc phát triển du lịch của địa phương. Nhà nước kỳ vọng rằng văn hóa Chăm có thể là động lực cho sự phát triển của công nghiệp du lịch, và ngược lại, sự phát triển của công nghiệp du lịch có thể là động lực để bảo tồn và phát huy văn hóa Chăm. Sự đại diện căn cước tộc người Chăm của nhà nước trong lễ hội này nổi lên mấy vấn đề:

Xu hướng hợp nhất lịch sử Chăm vào lịch sử quốc gia

Trong các tiết mục biểu diễn của Ngày hội thể thao văn hóa du lịch vùng đồng bào Chăm, xu hướng hợp nhất lịch sử Chăm vào lịch sử quốc gia được thể hiện qua việc kiến tạo nhận thức mới về lễ hội Ka tê và việc kiến tạo lớp nghĩa mới cho huyền thoại nguồn gốc của dân tộc. Trước hết, về lễ hội Ka tê, theo nhà nghiên cứu Sakaya (người Chăm), lễ hội này thường được tổ chức mỗi năm một lần, vào tháng Bảy lịch Chăm, nhằm tưởng nhớ các vị nam thần, như Po Klaung Girai, Po Rome và các vị tổ tiên người Chăm[4]. Khai thác sự kiện văn hóa truyền thống – lễ Ka tê của người Chăm, các nhà tổ chức cũng huy động mối liên hệ giữa lễ hội truyền thống của tộc người này với những lớp nghĩa mới được gán ghép mang tính dân tộc chủ nghĩa (nationalism). Chẳng hạn như, lời bài hát “ Ngày hội Katê” được biểu diễn ở đầu chương trình có lời hát không chỉ ca  ngợi ngày hội vui, không khí nô nức của người Chăm với những tiếng trống gi năng, tiếng kèn saranai dưới tháp Po Rome, với hoa Tagalau nở hương thơm ngát và đoàn người Chăm hành hương về các đền tháp mà còn cho biết trong hội Ka tê người dân “mừng chiến công vang lừng núi sông”[5]. Như vậy, từ chỗ hội Kate vôn là dịp để người Chăm tưởng nhớ các bậc tiền nhân người Chăm, một ý niệm mới đã được hình thành, nhằm gắn kết truyền thống của Chăm với truyền thống đấu tranh cách mạng của Việt Nam.  Huyền thoại nguồn gốc của người Chăm cũng được tái tạo với những lớp nghĩa mới. Theo truyện kể dân gian Chăm, người Chăm được sinh ra bởi mẹ Po Inư Nưgar – nữ thần xứ sở. Thế nhưng ngay trong tên gọi của lễ hội văn hóa này: “Ngày hội văn hóa vùng đồng bào Chăm”, nguồn gốc của người Chăm đã được thâu nạp vào trong huyền thoại nguồn gốc của người Việt, được xem như là một trong những người anh em cùng được sinh ra từ bọc trăm trứng của mẹ Âu Cơ. Huyền thoại về bọc trăm trứng vốn không xa lạ với người Việt, nhưng nó đã được kiến tạo những lớp nghĩa mới, để củng cố ý thức thuộc về quốc gia Việt Nam của người Chăm. Do cách dùng gọi đồng bào đã trở nên phổ biến, bản thân người Chăm cũng dần quen với nó. Nhiều người Chăm tự nói về mình, về cộng đồng mình bằng cách gọi “đồng bào Chăm”, có nghĩa là họ hoặc là thỏa hiệp, hoặc là vô thức, hoặc là tự nguyện, nhưng đều  biểu lộ xu hướng đồng hóa mình vào chỉnh thể của quốc gia dân tộc.

Sân khấu hóa di sản Chăm, thương mại hóa biểu tượng văn hóa Chăm

Trong khuôn khổ Ngày hội, có một tiết mục biểu diễn mang tên “Sân khấu hóa lễ hội Ka tê”. Lễ Ka tê cổ truyền vốn được diễn ra trong nhiều ngày liên tiếp ở nhiều địa điểm khác nhau, nhưng khi được sân khấu hóa thì toàn bộ diễn biến của nó được gói gọn trong khoảng thời gian tầm 15 phút. Các diễn viên trong trang phục người Chăm và người Raglai đi ra từ phía cánh gà, khiêng kiệu đi vào sân khấu, trong tiếng kèn kanhi. Những lời thuyết minh và hình ảnh trình chiếu trên sân khấu hỗ trợ rất ăn khớp với quá trình diễn xuất của diễn viên. Phần trình diễn sân khấu hóa bao gồm nhiều tiết mục, như: những người con gái Chăm múa quạt, các chức sắc tôn giáo Chăm thổi kèn, đánh trống, hát, bà bóng làm lễ tắm tượng, v.v… Lời của vị chủ lễ hát bài ca nghi lễ hòa cùng với tiếng kèn kanhi, và hòa cùng vào lời thuyết minh tiếng Việt của người dẫn chương trình, cùng với những hiệu ứng ánh sáng sân khấu tạo nên một cảnh tượng khá ấn tượng đối với những người quan sát.

Ảnh 2. Sân khấu hóa lễ hội Chăm: cảnh Lễ tắm tượng trong Ngày hội văn hóa, thể thao, du lịch vùng đồng bào dân tộc Chăm – Ninh Thuận 2012 (Ảnh: Phunuonline.net[6])

Thực tế,trong quá khứ, những nghi lễ mở cửa tháp, tắm tượng, khấn cúng… này vốn chỉ được thực hành bởi các chức sắc tôn giáo Chăm, đặc biệt là lễ tắm tượng chỉ được diễn ra trong lòng tháp Chăm, nơi ngay cả người Chăm không phải ai cũng có thể được vào. Những điều vốn là “bí ẩn”, hạn chế đối với nhiều người, nay lại được công bố ở nơi công cộng, như một nét đặc sắc Chăm. Ở đây, chúng ta thấy tính hai mặt của vấn đề: một mặt, cái bí ẩn, cái độc đáo, đặc sắc trở thành điểm nhấn hấp dẫn đối với du khách; mặt khác, tính thiêng của những nghi lễ mang tính nội bộ đã bị xâm phạm và bị khai thác phục vụ cho hoạt động giải trí, du lịch. Những nghi lễ này được trình diễn không phải với tính thiêng vốn có trong đời sống tôn giáo của nó, mà là một kiểu trình diễn để giới thiệu “nét Chăm” ra bên ngoài.

Trong các tiết mục biểu diễn của lễ hội, tiết mục múa Vũ nữ Apsara được xem là một tiết mục quan trọng, là điểm nhấn tạo ra sự cuốn hút đối với du khách. Các vũ nữ Apsara vốn là những nữ thần nổi tiếng về tài múa hát.  Phù điêu hình các vũ nữ Apsara vốn rất quen thuộc trong các tác phẩm điêu khắc Chăm.Tiết mục múa “”Vũ nữ Apsara” trong Ngày hội được kết hợp bởi thơ, nhạc và vũ đạo: bài thơ vốn của Inrasara, sau đó được nghệ sĩ Amư Nhân phổ nhạc (có chỉnh sửa lời), và được nghệ sĩ Đặng Hùng (người Kinh) biên đạo múa. Tiết mục múa này được dàn dựng dựa trên việc khai thác các đường nét, cử chỉ, động tác múa thường thấy ở các phù điêu Apsara, và thường được giới thiệu là “múa Chăm”. Trong màn trình diễn “Vũ nữ Apsara” tại Ngày hội, các diễn viên người Chăm trong các trang phục rất gợi cảm múa uyển chuyển nền âm nhạc có âm hưởng Chăm và trong những hiệu ứng ánh sáng, khói lửa đã tạo nên sức hấp dẫn, sự tò mò lớn đối với du khách. Tuy nhiên, liệu đây có thực sự là một truyền thống Chăm hay là một truyền thống được mới được kiến tạo (invented tradition) thì điều này vẫn gây nhiều tranh cãi. Một số người Chăm tự hào về điệu múa này, hoặc chấp nhận nó như một sự đại diện cho nghệ thuật múa Chăm. Ở Thánh địa Mỹ Sơn, mảnh đất linh thiêng của người Chăm, điệu múa của những vũ nữ gợi cảm này cũng là một phần không thể thiếu trong các màn biểu diễn thường xuyên của người Chăm phục vụ du khách. Tuy nhiên lại cũng có nhiều người Chăm đã phản ánh bức xúc khi thấy con em mình mặc quần áo hở hang, múa điệu vũ rất xa lạ với truyền thống của dân tộc mình.

Ảnh 3: Tiết mục múa Vũ nữ Apsara trong Ngày hội Văn hóa thể thao – du lịch vùng đồng bào dân tộc Chăm – Ninh Thuận 2012 (ảnh của tác giả bài viết).

Quá trình đem một cái gì đó không quen thuộc đến với công chúng và dùng nó để đại diện căn cước Chăm, phục vụ cho sự tiêu dùng, thụ hưởng của người khác (những người Việt Nam không phải người Chăm và du khách quốc tế) cho thấy sự “ngoại lai hóa” (exoticization) văn hóa Chăm của nhà nước, cũng là sự thương mại hóa bản sắc tộc người, khi sử dụng những “nét đặc sắc Chăm” để quảng bá du lịch cho địa phương. Có thể thấy rằng xu hướng sân khấu hóa văn hóa truyền thống, thương mại hóa các biểu tượng văn hóa của các tộc người thiểu số cũng đang hết sức phổ biến ở nước ta. Từ trường hợp cụ thể về khai thác, huy động văn hóa Chăm được trình bày ở trên, chúng tôi cho rằng trong các sự kiện văn hóa của các cộng đồng thiểu số do nhà nước tổ chức cần có sự cân nhắc để những mụ c tiêu của quốc gia không vi phạm, mâu thuẫn với những chuẩn mực văn hóa của cộng đồng thiểu số.

Với những quan sát và phân tích trên đây, đối chiếu vào mô hình căn cước tộc người mà Phinney đưa ra (như trình bày ở trên), chúng tôi nhận thấy trong bối cảnh Ngày hội văn hóa thể thao du lịch do nhà nước tổ chức, người Chăm biểu hiện sự nhận đồng tộc người theo khuynh hướng “tích hợp” văn hóa Chăm , căn cước Chăm với văn hóa, căn cước của quốc gia, tuy nhiên căn cước của họ có phần nào “bị đồng hóa” khi để văn hóa quốc gia lấn áp văn hóa tộc người (chẳng hạn như trường hợp lịch sử hình thành tộc người Chăm bị nhất thể hóa trong lịch sử hình thành tộc người Việt, tính thiêng của nghi lễ Chăm được phá bỏ phục vụ cho nhu cầu phát triển du lịch, quảng bá văn hóa, v.v…). Điều đó gợi ý rằng trong việc bảo tồn văn hóa các tộc người thiểu số, các nhà khoa học cũng như các nhà quản lý văn hóa cần đề cao hơn nữa sự độc lập tương đối về lịch sử, truyền thống của tộc người, chứ không chỉ hợp nhất một cách tuyệt đối những di sản lịch sử của tộc người vào quốc gia, và khai thác một cách tùy ý những truyền thống của tộc người dựa trên “động cơ chính đáng” là phục vụ cho những mục tiêu phát triển của quốc gia.

Tài liệu tham khảo:

Brown, RichardHarvey. 1996. Cultural representation and state formation: Discourses of ethnicity, nationality, and political community. Dialect Anthropol Dialectical Anthropology 21 (3-4):3-4.

Cohen, Anthony P. 2000. The symbolic construction of community. London; New York: Routledge.

Eriksen, Thomas Hylland. 2010. Ethnicity and nationalism. London: Pluto Press.

Hall, Stuart, and University Open. 1997. Representation : cultural representations and signifying practices. London; Thousand Oaks, Calif.: Sage in association with the Open University.

Hamid, Abdul , and Mohamed Effendy Bin. 2006. Understanding the Cham Identity in Mainland Southeast Asia: Contending Views. SOJOURN Journal of Social Issues in Southeast Asia 21 (2):230.

Lafont, P-B. 2007. Champa: Geography – Population – History [Le Champa: Géographie – Population – Histoire]. Translated by H. Poklaun. Paris: Les Indes Savantes

Lévi-Strauss, Claude. 1979. Myth and meaning. New York: Schocken Books.

Lockard, Craig A. 1998. Dance of life : popular music and politics in Southeast Asia. Honolulu, HI: University of Hawai`i Press.

Phinney, J. S. 1990. Ethnic identity in adolescents and adults: review of research. Psychological bulletin 108 (3):499-514.

Smith, Anthony D. Myths and memories of the nation. Oxford University Press 1999.

Taylor, Philip, and Australia Asian Studies Association of. 2007. Cham Muslims of the Mekong Delta : place and mobility in the cosmopolitan periphery. [Nathan, Qld.]; Honolulu: Asian Studies Association of Australia ; In Association with University of Hawai`i Press.

Tran Ky, Phuong, and Bruce Lockhart. 2011. The Cham of Vietnam : history, society and art. Singapore: NUS Press.

Vietnam Update Conference and Taylor, Philip. 2006. Minorities at large : new approaches to minority ethnicity in Vietnam. Paper read at Vietnam Update Conference, 2011, at Singapore National University, Singapore.

[1]    Thông cáo báo chí của Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch: http://vhttdlkv3.gov.vn/PrintVersion.aspx?i=2685

[2]            Hồng Trang, , “NS Đinh Trung Cẩn…”, http://vhttdlkv3.gov.vn/Ngay-hoi-VHTTDL-Cham/NS-Dinh-Trung-Can-Tong-dao-dien-chuong-trinh-khai-mac-va-be-mac-Ngay-hoi-VHTTDL-vung-dong-bao-dan-toc-Cham-Ninh-Thuan-nam-2012-Se-co-nhung-chuong-trin.2805.detail.aspx

[3]          . Hồng Trang, “”Phỏng vấn ông Phan Quốc Anh, Giám đốc Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch Ninh Thuận về Ngày hội văn hóa – thể thao – du lịch vùng đồng bào Chăm: Ngày hội sẽ là cơ hội để thu hút khách du lịch”,

http://vhttdlkv3.gov.vn/Ngay-hoi-VHTTDL-Cham/Phong-van-ong-Phan-Quoc-Anh-Giam-doc-So-VHTTDL-Ninh-Thuan-ve-Ngay-hoi-VHTTDL-vung-dong-bao-dan-toc-Cham-Ngay-hoi-se-la-Co-hoi-thu-hut-khach-du-lich-ti.2807.detail.aspx

[4]             Sakaya, “Về lễ Ka tê”, http://gulppatom.wordpress.com/2011/09/23/bai-vi%E1%BA%BFt-v%E1%BB%81-l%E1%BB%85-h%E1%BB%99i-kate-sakaya/

[5] Lời bài hát “Ngày hội Ka tê” của Amư Nhân theo tư liệu ghi âm của tác giả bài viết (2012): “Kate – plei Chăm đón chào mùa xuân về. Ngày vui Katê vang tiếng trống tiếng kèn saranai. Làng quê ta ơi cùng hát lên tiếng hát mùa xuân.  Múa vui quanh tháp Po Rome. Rừng hoa Tagalau tỏa ngát hương. Người Chăm mơ bóng đất rừng  Ngàn đời sau còn nhắc nhở. Hội Katê mừng xóm thôn ông bà quê ta Líu lo tiếng chim ca gọi mùa xuân thắm tươi cành lá. Hội Katê mừng chiến công vang lừng núi sông. Chúc xuân muôn nơi dâng sắc hương cho cuộc đời”.

[6]Trích lại từ  http://www.baomoi.com/Kate-mua-hoi/137/9543983.epi

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *