Một họ tộc chủ đất – Một họ Hán Việt: Một giả thuyết về chế độ hộ khẩu mới để quán lý đất đai ở các làng Chăm Mẫu hệ thời Minh Mạng

Shine Toshihiko

Ph. D. Assistant Professor, Kyoto University Graduate School of GlobalEnvironmental Studies

Đặt vấn đề:

Nguồn gốc họ Hán-Việt của người Chăm Vùng Chăm, vùng Ragalai Bình Thuận có câu; “Nguyễn Dụng Tài Thanh Hắc Bạch Chu Hoàng 阮用才青黒白朱黄”, Trong câu này có một số họ Hán Việt điển hình của người Chăm Phan Rí (Parik) là: Nguyễn, Dụng Tài, Thanh, Hắc, Bạch, Chu, Hoàng (阮、用、才、青、黒、白、朱、黄)(Chú thích 1). Như chúng ta thấy trong
câu này, so với dân số (khoảng 130,000 người, năm 2006), chủng loại họ Hán Việt của người Chăm tương đối nhiều (hơn 30 họ, theo Lê Kim Hoa, 1992). Quá trình đặt họ Hán Việt của người Chăm đã được một vài nhà nghiên cứu tìm hiểu. Họ Hán – Việt của người Chăm hiện nay có thể bắt nguồn từ thời Minh Mạng (1820-1840). Theo Dự-thảo Hộ-luật Chàm 占戸律豫草(Dương Tấn Phát, 1936), “đến thời vua Minh Mạng thấp thất (1836), vua “ra lệnh xích hoá, cải tổ đề huề mới đặt ra họ như họ Lưu, Hàn, Đàng, Nguyễn, Trương. Chu, Phú, Dương…(劉、韓、唐、阮、張、周、富、楊)”, Theo Tìm hiểu cộng đồng người Chăm tại Việt Nam (Nguyễn Văn Huy (Pháp), 2003) cũng cho rằng, “Minh Mạng buộc người Chăm phải lấy một trong sáu họ Việt do chính nhà vua ban: Nguyễn, Dụng, Lâm, Diệp, Hắc, Tôn (阮、用、葉、林、黒、孫). Về sau có thêm các họ: Thiên, Quảng, Bá, Đàng, Thiết (Tiết?), Thổ, Dương v.v…(千、廣、柏、唐、薛、土、楊)”,

Tuy nhiên, qua Đại Nam thực lục chính biên 大南寔録正編(Quốc sử quán, 1868) cũng như Mục lục Châu bản triều Nguyễn 阮朝硃本目録(Cục Lưu trữ Nhà nước, 2000), chúng tôi chưa xác nhân được “lệnh xích hoá 赤化令” hay là “buộc người Chăm lấy họ Việt” trong những trang sử năm Minh Mạng thứ 17. Như vậy. Chúng tôi chưa sử dụng được những ghi chép của Dương Tấn Phát (1936) và Nguyễn Văn Huy (Pháp) (2003). Cho đến nay, chúng tôi đã xác nhận được một ghi chép duy nhất mà có khẳng định cái gọi là “buộc người Chăm lấy họ Việt” trong Đại Nam thực
lục chính biên; Năm Minh Mạng thứ 13 (1832), ngay sau khi Chúa Nguyễn Văn Thừa (Po Phaok The, Trấn vương cuối cùng của Trấn Thuận Thành) như sau: “Vì sau này phong cách sẽ như nhau nên bây giờ ban họ cho Thổ dân (người Chăm) để có thể biết được tộc loại 日後民風斉一賜之姓氏以明族類”, (trang 10b, Quyển 85 Đệ Nhị Kỷ). Continue reading

Sở hửu ruộng đất Chăm theo địa bạ của triều Nguyễn năm 1836

11080422_1034059433289535_699399044072848409_oNăm 1836, vua Minh Mạng ra lệnh đo đạt và thống kê lại toàn bộ số ruộng đất trong cả nước Tại địa hạt tỉnh Bình Thuận (tức là các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và một phần khu vực miền cao Lâm Đồngngày nay), trong các làng xóm của người Chăm, chính quyền cũng tiến hành các hoạt động thống kê và đo đạt ruộng đất để ghi chépvào địa bạ của nhà Nguyễn[1].

Chế độ sở hữu ruộng đất của người Chăm. Continue reading