Inrasara – Phu Tram

2Full name: Phú Trạm, pen name: Inrasara
[Inra: Cham transliteration of Sanskrit Indra, the god of Thunder; Sara: salt]

Inrasara was born on August 20th 1957, in the Cham town of Caklaing. His hometown is known as “Mỹ Nghiệp, Phước Dân” in Vietnamese, and is located in Ninh Phước District, to the south of Phan Rang, in Ninh Thuận Province, along the south-central Vietnamese coastline. In the late 1960s, he was a student at Po Klong High School in Ninh Thuận province, where he graduated from High School in 1969. He then went on to study at the University of Pedagogy in Ho Chi Minh City in 1977, although he left university a year later to wander in Cham villages. He began collecting Cham poems and folk tales. He read philosophy and composed poems in both Vietnamese and Cham language. After five years of independent work, he became employed as a Research for the Editorial Committee of Cham Textbooks-Ninh Thuận Province in 1982. After decades of work, his research skills became widely recognized. In 1992, Inrasara moved to the University of Social Sciences & Humanities in Ho Chi Minh City, where he was employed as a Researcher at the Center for Vietnamese & Southeast Asian Studies. After six years at the university, however, he found that he was best left to his own devices as an independent scholar. Since 1998, he has thrived as a free writer and free thinker. He has published extensive poems in Vietnamese and Cham, along with numerous translations of Cham poetry into Vietnamese. He is renowned for his literary criticism, along with his research on Cham language and culture.
Continue reading

RIJA NƯGAR – Lễ hội đầu năm người Chăm.

  • Bài viết Inrasara
  • Tạp chí Tia Sáng, 03/10/2006
  • Ảnh: Inra Jaya

RIJA NƯGAR –  Một lễ hội dân gian dân tộc Chăm mang nhiều yếu tố trình diễn
I. Lễ hội và ý nghĩa của nó

Rija Nưgar có nghĩa là lễ hội của xứ sở (Rija: lễ, Nưgar: xứ sở). Nhìn từ góc độ truyền thống đây là một lễ hội lớn, có thể nói lớn nhất dân tộc Chăm, bên cạnh hai lễ hội dân gian khác là Katê và Bbơng muk kei (Ramadan hay Ramưwan).
Nếu Bbơng muk kei tổ chức vào đầu tháng 9 Hồi lịch, chỉ có bộ phận Chăm Bàni – Cam Awal (người Chăm theo đạo Hồi được dân tộc hóa) tham dự; hay nếu Katê, được tổ chức vào đầu tháng 7 Chăm lịch, đại bộ phận người tham gia là quần chúng Chăm Bàlamôn – Cam Ahier(1), thì lễ Rija Nưgar hầu như đã tập hợp được toàn bộ cư dân Chăm trong khu vực hành lễ.11096472_1036286139733531_1029361768932457857_n
Dĩ nhiên người Chăm thuộc hai tôn giáo khác nhau này, cuộc lễ được tổ chức với những dị biệt nhất định(2). Ở đây, chúng tôi thử mô tả diễn biến cuộc lễ tại một địa bàn trọng điểm là làng Mỹ Nghiệp, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận (thuộc Chăm Bàlamôn).
– Địa điểm hành lễ: thường là tại một chốn công cộng ở đầu làng.
– Kajang (rạp) Rija Nưgar: bằng dụng cụ sắm sẵn: gỗ, tre, tranh, cà tăng…, người ta dựng rạp hai mái, một mặt hướng về phía Đông để trống, mặt đối diện được che kín.
– Thời gian hành lễ: hai ngày, thứ Năm và thứ Sáu của tuần đầu tháng Giêng Chăm (Tamư di Jip, tabiak di Xuk: Vào ngày thứ Năm, ra ngày thứ Sáu, như một câu tục ngữ Chăm nói).
– Lễ vật: vài cặp gà, vài mâm bánh trái vào ngày đầu; ngày sau mới cúng dê.
– Chủ lễ: Mưdwơn gru (giỗ sư hay thầy vỗ) vừa điều khiển cuộc lễ vừa hát các bài ca lịch sử hay bài tụng ca (damnưy) đồng thời vỗ trống baranưng (trống một mặt của người Chăm) đệm theo lời hát. Bên cạnh có một Mưdwơn khác phụ lễ.
Nhưng có thể nói, nhân vật trung tâm của cuộc lễ phải là Ong Ka-ing, một vũ sư nhảy múa.
– Ý nghĩa: bài tụng ca ngợi ca công đức của các Yang, Cei, Nai (vua, anh hùng, liệt nữ được thần hóa) trong công cuộc tạo dựng non sông, mang ấm no cho dân tộc. Và ý nghĩa của cuộc lễ là tống khứ khỏi palei tất cả cái xấu xa nhơ nhớp của năm cũ để đón nhận cái tốt đẹp nhân dịp năm mới.

Continue reading

Văn học Chăm khái luận

Inrasara Phú Trạm

300_300_Van hoc ChamVăn học Chăm khái luận là một trong những công trình ít ỏi dành cho lịch sử văn học Chăm. Đây là lần đầu tiên văn học Chăm được thống kê các thể loại, những tác phẩm tiêu biểu và những phán đoán về thời kì ra đời của chúng, giúp bổ sung cho vốn hiểu biết về di sản tinh thần của người Chăm. Trong hơn 100 văn phẩm tác giả tiếp cận được (không kể văn học dân gian) chỉ có 6 dưới dạng in, còn lại thì 12 là bản ghi âm và 86 là bản viết tay. Inrasara bỏ gần hai mươi năm để thu thập tư liệu và hơn tám năm để làm công việc biên soạn.

Continue reading