RIJA NƯGAR – Lễ hội đầu năm người Chăm.

  • Bài viết Inrasara
  • Tạp chí Tia Sáng, 03/10/2006
  • Ảnh: Inra Jaya

RIJA NƯGAR –  Một lễ hội dân gian dân tộc Chăm mang nhiều yếu tố trình diễn
I. Lễ hội và ý nghĩa của nó

Rija Nưgar có nghĩa là lễ hội của xứ sở (Rija: lễ, Nưgar: xứ sở). Nhìn từ góc độ truyền thống đây là một lễ hội lớn, có thể nói lớn nhất dân tộc Chăm, bên cạnh hai lễ hội dân gian khác là Katê và Bbơng muk kei (Ramadan hay Ramưwan).
Nếu Bbơng muk kei tổ chức vào đầu tháng 9 Hồi lịch, chỉ có bộ phận Chăm Bàni – Cam Awal (người Chăm theo đạo Hồi được dân tộc hóa) tham dự; hay nếu Katê, được tổ chức vào đầu tháng 7 Chăm lịch, đại bộ phận người tham gia là quần chúng Chăm Bàlamôn – Cam Ahier(1), thì lễ Rija Nưgar hầu như đã tập hợp được toàn bộ cư dân Chăm trong khu vực hành lễ.11096472_1036286139733531_1029361768932457857_n
Dĩ nhiên người Chăm thuộc hai tôn giáo khác nhau này, cuộc lễ được tổ chức với những dị biệt nhất định(2). Ở đây, chúng tôi thử mô tả diễn biến cuộc lễ tại một địa bàn trọng điểm là làng Mỹ Nghiệp, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận (thuộc Chăm Bàlamôn).
– Địa điểm hành lễ: thường là tại một chốn công cộng ở đầu làng.
– Kajang (rạp) Rija Nưgar: bằng dụng cụ sắm sẵn: gỗ, tre, tranh, cà tăng…, người ta dựng rạp hai mái, một mặt hướng về phía Đông để trống, mặt đối diện được che kín.
– Thời gian hành lễ: hai ngày, thứ Năm và thứ Sáu của tuần đầu tháng Giêng Chăm (Tamư di Jip, tabiak di Xuk: Vào ngày thứ Năm, ra ngày thứ Sáu, như một câu tục ngữ Chăm nói).
– Lễ vật: vài cặp gà, vài mâm bánh trái vào ngày đầu; ngày sau mới cúng dê.
– Chủ lễ: Mưdwơn gru (giỗ sư hay thầy vỗ) vừa điều khiển cuộc lễ vừa hát các bài ca lịch sử hay bài tụng ca (damnưy) đồng thời vỗ trống baranưng (trống một mặt của người Chăm) đệm theo lời hát. Bên cạnh có một Mưdwơn khác phụ lễ.
Nhưng có thể nói, nhân vật trung tâm của cuộc lễ phải là Ong Ka-ing, một vũ sư nhảy múa.
– Ý nghĩa: bài tụng ca ngợi ca công đức của các Yang, Cei, Nai (vua, anh hùng, liệt nữ được thần hóa) trong công cuộc tạo dựng non sông, mang ấm no cho dân tộc. Và ý nghĩa của cuộc lễ là tống khứ khỏi palei tất cả cái xấu xa nhơ nhớp của năm cũ để đón nhận cái tốt đẹp nhân dịp năm mới.

Continue reading

Lễ nghi nông nghiệp truyền thống tộc người Chăm và Raglai Ninh Thuận

image0001Ninh Thuận là một vùng đất khô hạn nằm ở cực nam Trung bộ Việt Nam, thuộc tiểu vùng Panduranga của vương quốc Champa. Để khắc phục sự hà khắc của thiên nhiên, cư dân nơi đây đã sáng tạo nên một nền văn minh lúa nước với giống lúa Chiêm nổi tiếng khắp vùng và lan tỏa đến các nước láng giềng. Ngày nay, không chỉ để lại những hệ thống đập nước, công trình thủy lợi và những đồng ruộng nuôi sống cư dân của vùng đất này từ ngàn xưa cho đến tận ngày nay, mà còn để lại nhiều công trình kiến trúc nổi tiếng với kỹ thuật xây dựng độc đáo nhằm ghi nhớ đến công lao của các vị anh hùng dân tộc đã có công khai khẩn đất đai, dẫn thủy nhập điền mang lại sự ấm no hạnh phúc cho nhân dân.

Bên cạnh đó, chính nơi đây cũng đã sản sinh ra hai tộc người bản địa, đó là tộc người Chăm và tộc người Raglai. Mặc dù trải qua nhiều cuộc binh biến và thăng trầm của lịch sử, nhưng tộc người Chăm và tộc người Raglai là hai tộc người đã có công vun sới và bồi đắp tài sản quí giá của cha ông để lại cho vùng đất Ninh Thuận ngày nay. Trong đó, không thể không kể đến giá trị văn hóa tinh thần mà cụ thể là lễ nghi nông nghiệp truyền thống. Continue reading

Bảo tồn và phát huy nét đẹp văn hóa truyền thống qua lễ tục Ew Muk kei, lễ hội Kate – Ramawan và lễ hội Rija Nagar

Thành Phần(*)

khach-san-corvin-vung-tau-22607

Người Chăm[1] là một trong 54 dân tộc ở Việt Nam, có dân số khoảng 161.729 người[2]. Đây là cư dân bản địa thuộc loại hình nhân chủng Indonesien[3]. Tiếng nói của họ gần gũi với tiếng các dân tộc Raglai, Churu, Jarai và Ê-đê, thuộc nhóm ngôn ngữ Mã lai – Đa đảo (Malayo – Polynesian), hệ ngôn ngữ Nam Đảo – Austranesian[4] (Collins J., 1991: 108 – 121).

Do trải qua nhiều biến cố trong lịch sử, đã làm cho địa bàn cư trú của tộc người Chăm bị xáo trộn, phân bố phân tán cách biệt nhau về điều kiện địa lý và môi trường xã hội, chia tách thành nhiều nhóm cộng đồng tộc người mang tính đặc thù cho từng khu vực địa phương khác nhau, không còn đồng nhất như trước đây. Đặc biệt là tín ngưỡng tôn giáo, hầu như có khuynh hướng biến đổi theo xu thế địa phương hóa. Điều này đã dẫn đến sự phân hóa thành ba vùng địa phương khác nhau: vùng Trung Trung Bộ (cộng đồng địa phương người Chăm Hroi[5] ở Phú Yên và Bình Định)[6]; vùng Nam Trung Bộ (cộng đồng địa phương người Chăm Klak[7] ở Ninh Thuận và Bình Thuận); vùng Tây Nam Bộ (cộng đồng địa phương người Chăm Biruw ở An Giang, Tây Ninh và Tp. Hồ Chí Minh) [Thành Phần, 2012:89]. Continue reading