Người Chàm trong hệ thống hàng hải Đông Nam Á

Anthony Reid

  Ngô Bắc dịch

CÁC KHUYNH HƯỚNG VIẾT SỬ

Thập niên qua chứng kiến một sự phục hồi nổi bật của mối quan tâm đến chiếu kích hàng hải trong lịch sử Á Châu, đặc biệt là của Đông Nam Á.  Bởi trong phần lớn thế kỷ trước đây, sự nhấn mạnh trong việc viết sử  đều được hướng theo một đường lối khác.   Tinh đa dạng phong phú của cuộc sống Đông Nam Á đã bị cắt nhỏ bởi chế độ thực dân Âu Châu thành một tá các nước thuộc địa với các biên giới cố định.  Chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa dân tộc kết bè với nhau trong việc thiết lập các định chế và cá tính đồng nhất trong phạm vi các biên giới này.  Các lịch sử mới đã được tạo lập để nối kết các quốc gia vất vả để hình thành từ con sâu kén của chê độ thực dân với các vương quốc cổ xưa hơn thuộc các thời đại hoàng kim tưởng tượng, bất kể đến các hậu quả của việc làm như thế đối với các sắc dân thiểu số bị mắc kẹt trong các biên cương mới.  Hơn nữa, đã có một sự lãng mạng hóa giới nông dân (tự nó là một phát kiến hồi cuối thế kỷ thứ mười chín) như là quả tim huyền thoại của các quốc gia mới này, kẻ biểu trưng tuyệt diệu nhất cho (par excellence) đối tượng mà quốc gia-dân tộc được hiểu là sẽ phục vụ.  Tất cả các điều này chỉ dành  một khoảnh không gian nhỏ bé cho tính đa tầng (multicity) và tính lưu động (mobility) của các cá tinh xác định  mà thế giới hàng hải Đông Nam Á luôn luôn bao hàm.  Đối với các sắc dân mang các cá tính không cách nào phù hợp với các biên giới mới, người Chàm là một thí dụ nổi bật trong các nhóm dân đó, chiều hướng viết sử đó đặc biệt không hữu ích gì.

Continue reading

Cham Maritime Technology: Basket-Hulled Boats

David G. Sox, aka Che Sah Binu
Independent Champa Scholar

sshot-1Summary:

Basket-hulled boats appear to be unique to Central Vietnam, and their present-day geographic distribution is congruent with the historic culture area of the primarily Austronesianspeaking Champa from modern Quang Binh to Binh Thuan. It is believed that no modern Cham population in mainland Southeast Asia still regularly uses boats for transportation or fishing, but the Vietnamese of Central Vietnam traditionally used a large variety of hand-made row- sail- boats with sewn planked upper hulls and flexible hull bottoms. The flexible hull bottoms consisted of woven strips of bamboo that have been caulked with various substances including buffalo dung, tree resin, flaked malaleuca leucadendron cork, coconut husk fibers, and/or ground bamboo. The wovenbamboo basket-hulled boats ranged from small circular coracles (thúng) to ocean-going sailing boats with a capacity of 100 tons or more of cargo. This unique boat technology appears to be an indigenous independent development peculiar to the Austronesian-speaking Cham people that could date back several millennia. However, all evidence of attributing the origin of the boat technology to the Cham is circumstantial. There is much research that could be done to illuminate the Cham connection to traditional boat technology in Vietnam. The following research questions are suggested: (1) conduct additional maritime archaeology to find early historic or prehistoric examples of basket-hulled boats; (2) search the large body of Cham-language manuscripts for descriptions of boat and fishing techniques; (3) complete the planned inventory/ethnology of boats in Vietnam that was proposed by the British Museum; (4) determine why this geographically unique distribution of boat architecture did not spread outside Central Vietnam; and (5) determine if the Cham population of sailors and fishermen historic were the same as the Cham population that were primarily farmers.

Please click here to view the full paper: Basket Hulled Boats of Ancient Champa

Phù Nam, Chân Lạp, Chàm và các đền thờ Thiên Hậu trong hoạt động mậu dịch đường biển và sự xuất hiện các thành phố duyên hải tại Đông Nam Á (từ thế kỷ thứ 1 đến thế kỷ thứ 16)

Johannes Widodo

the-gioi-thua-nhan-hoang-sa-truong-sa-la-cua-viet-nam-ra-sao-1147167Bài dịch dưới đây không chỉ nói đến vai trò của Phù Nam, Lâm Ấp trong hoạt
động mậu dịch với Trung Hoa ở vùng biển đông trong hai thế kỷ, 220-420, mà
còn xác định miền bắc Trung Kỳ và Bắc Kỳ, đặc biệt là Hà Nội như trạm xuất
nhập hàng hóa chính yếu giữa các nước phương nam với kinh đô Trung Hoa
vào thời điểm đó, với một sử quan từ phía Trung Hoa.Tác giả Wang Gungwu, nguyên Giám Đốc Viện Đông Á của Đại Hoc Quốc Gia Singapore, một học giả nổi tiếng về các lãnh vực Hoa Kiều Hải Ngoại và lịch sử ngoại thương Trung Hoa, là người gốc Trung Hoa, với các thiên kiến cố hữu, gọi các dân tộc khác ở phương nam là man di một cách “tự nhiên”.
Quyển sách bao gồm phần trích dịch này, The Nanhai Trade: The Early History of Chinese Trade in the South China See, đà được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1958.
Vai trò của Phù Nam, Chân Lạp, và cả Chiêm Thành trong hoạt động mậu dịch vùng biển đông cho tới các thế kỷ sau sẽ được trình bày trong bài dịch kế tiếp, “Phù Nam,Chân Lạp, Chàm và Các Đền Thờ Thiên Hậu Trong Hoạt Động Mậu Dich Đường Biển và Sự Xuất Hiện Các Thành Phố Duyên Hải Tại Đông Nam Á, từ thế kỷ thứ 1 đến thế kỷ thứ 16” của một tác giả khác, Johannes Widodo

Xem bản dịch toàn văn tại đây: Johannes Widodo cac den tho thien hau champa hang hai