RIJA NƯGAR – Lễ hội đầu năm người Chăm.

  • Bài viết Inrasara
  • Tạp chí Tia Sáng, 03/10/2006
  • Ảnh: Inra Jaya

RIJA NƯGAR –  Một lễ hội dân gian dân tộc Chăm mang nhiều yếu tố trình diễn
I. Lễ hội và ý nghĩa của nó

Rija Nưgar có nghĩa là lễ hội của xứ sở (Rija: lễ, Nưgar: xứ sở). Nhìn từ góc độ truyền thống đây là một lễ hội lớn, có thể nói lớn nhất dân tộc Chăm, bên cạnh hai lễ hội dân gian khác là Katê và Bbơng muk kei (Ramadan hay Ramưwan).
Nếu Bbơng muk kei tổ chức vào đầu tháng 9 Hồi lịch, chỉ có bộ phận Chăm Bàni – Cam Awal (người Chăm theo đạo Hồi được dân tộc hóa) tham dự; hay nếu Katê, được tổ chức vào đầu tháng 7 Chăm lịch, đại bộ phận người tham gia là quần chúng Chăm Bàlamôn – Cam Ahier(1), thì lễ Rija Nưgar hầu như đã tập hợp được toàn bộ cư dân Chăm trong khu vực hành lễ.11096472_1036286139733531_1029361768932457857_n
Dĩ nhiên người Chăm thuộc hai tôn giáo khác nhau này, cuộc lễ được tổ chức với những dị biệt nhất định(2). Ở đây, chúng tôi thử mô tả diễn biến cuộc lễ tại một địa bàn trọng điểm là làng Mỹ Nghiệp, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận (thuộc Chăm Bàlamôn).
– Địa điểm hành lễ: thường là tại một chốn công cộng ở đầu làng.
– Kajang (rạp) Rija Nưgar: bằng dụng cụ sắm sẵn: gỗ, tre, tranh, cà tăng…, người ta dựng rạp hai mái, một mặt hướng về phía Đông để trống, mặt đối diện được che kín.
– Thời gian hành lễ: hai ngày, thứ Năm và thứ Sáu của tuần đầu tháng Giêng Chăm (Tamư di Jip, tabiak di Xuk: Vào ngày thứ Năm, ra ngày thứ Sáu, như một câu tục ngữ Chăm nói).
– Lễ vật: vài cặp gà, vài mâm bánh trái vào ngày đầu; ngày sau mới cúng dê.
– Chủ lễ: Mưdwơn gru (giỗ sư hay thầy vỗ) vừa điều khiển cuộc lễ vừa hát các bài ca lịch sử hay bài tụng ca (damnưy) đồng thời vỗ trống baranưng (trống một mặt của người Chăm) đệm theo lời hát. Bên cạnh có một Mưdwơn khác phụ lễ.
Nhưng có thể nói, nhân vật trung tâm của cuộc lễ phải là Ong Ka-ing, một vũ sư nhảy múa.
– Ý nghĩa: bài tụng ca ngợi ca công đức của các Yang, Cei, Nai (vua, anh hùng, liệt nữ được thần hóa) trong công cuộc tạo dựng non sông, mang ấm no cho dân tộc. Và ý nghĩa của cuộc lễ là tống khứ khỏi palei tất cả cái xấu xa nhơ nhớp của năm cũ để đón nhận cái tốt đẹp nhân dịp năm mới.

Continue reading

Văn hóa phi vật thể của người Chăm Ninh Thuận

10934023_10204592157101433_112373427508533859_n

Người Chăm Ninh Thuận là cư dân chiếm số dân đông nhất trong cộng đồng  tộc ngươì Chăm cả nước. Tộc người Chăm ở tỉnh Ninh Thuận ngày nay là cư dân bản địa, sinh tụ lâu đời, gắn liền với sự hình thành và phát triển vương quốc Champa cổ từ thế kỷ thứ II đến nửa đầu thế kỷ XIX sau công nguyên, sau đó hòa nhập vào cộng đồng đa dân tộc Việt Nam cho đến ngày nay. Trong suốt quá trình tồn tại và phát triển, người Chăm đã sản sinh và để lại cho hậu thế một di sản văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú, đa dạng và đặc sắc, đặc biệt là văn hóa phi vật thể. Di sản văn hóa vật thể ở đây có thể kể đến những kiến trúc tôn giáo như đền tháp, kiến trúc dân sinh, nhạc cụ, trang phục cổ truyền, hệ thống nông cụ, phương tiện di chuyển, gốm, vải vóc, hoa văn… Văn hóa phi vật thể với hệ thống tín ngưỡng dân gian, tôn giáo, lễ hội, văn học dân gian, văn chương, ngôn ngữ, các loại hình nghệ thuật tạo hình, múa hát, y thuật, tri thức dân gian…

Continue reading

Lễ nghi nông nghiệp truyền thống tộc người Chăm và Raglai Ninh Thuận

image0001Ninh Thuận là một vùng đất khô hạn nằm ở cực nam Trung bộ Việt Nam, thuộc tiểu vùng Panduranga của vương quốc Champa. Để khắc phục sự hà khắc của thiên nhiên, cư dân nơi đây đã sáng tạo nên một nền văn minh lúa nước với giống lúa Chiêm nổi tiếng khắp vùng và lan tỏa đến các nước láng giềng. Ngày nay, không chỉ để lại những hệ thống đập nước, công trình thủy lợi và những đồng ruộng nuôi sống cư dân của vùng đất này từ ngàn xưa cho đến tận ngày nay, mà còn để lại nhiều công trình kiến trúc nổi tiếng với kỹ thuật xây dựng độc đáo nhằm ghi nhớ đến công lao của các vị anh hùng dân tộc đã có công khai khẩn đất đai, dẫn thủy nhập điền mang lại sự ấm no hạnh phúc cho nhân dân.

Bên cạnh đó, chính nơi đây cũng đã sản sinh ra hai tộc người bản địa, đó là tộc người Chăm và tộc người Raglai. Mặc dù trải qua nhiều cuộc binh biến và thăng trầm của lịch sử, nhưng tộc người Chăm và tộc người Raglai là hai tộc người đã có công vun sới và bồi đắp tài sản quí giá của cha ông để lại cho vùng đất Ninh Thuận ngày nay. Trong đó, không thể không kể đến giá trị văn hóa tinh thần mà cụ thể là lễ nghi nông nghiệp truyền thống. Continue reading

Bảo tồn và phát huy nét đẹp văn hóa truyền thống qua lễ tục Ew Muk kei, lễ hội Kate – Ramawan và lễ hội Rija Nagar

Thành Phần(*)

khach-san-corvin-vung-tau-22607

Người Chăm[1] là một trong 54 dân tộc ở Việt Nam, có dân số khoảng 161.729 người[2]. Đây là cư dân bản địa thuộc loại hình nhân chủng Indonesien[3]. Tiếng nói của họ gần gũi với tiếng các dân tộc Raglai, Churu, Jarai và Ê-đê, thuộc nhóm ngôn ngữ Mã lai – Đa đảo (Malayo – Polynesian), hệ ngôn ngữ Nam Đảo – Austranesian[4] (Collins J., 1991: 108 – 121).

Do trải qua nhiều biến cố trong lịch sử, đã làm cho địa bàn cư trú của tộc người Chăm bị xáo trộn, phân bố phân tán cách biệt nhau về điều kiện địa lý và môi trường xã hội, chia tách thành nhiều nhóm cộng đồng tộc người mang tính đặc thù cho từng khu vực địa phương khác nhau, không còn đồng nhất như trước đây. Đặc biệt là tín ngưỡng tôn giáo, hầu như có khuynh hướng biến đổi theo xu thế địa phương hóa. Điều này đã dẫn đến sự phân hóa thành ba vùng địa phương khác nhau: vùng Trung Trung Bộ (cộng đồng địa phương người Chăm Hroi[5] ở Phú Yên và Bình Định)[6]; vùng Nam Trung Bộ (cộng đồng địa phương người Chăm Klak[7] ở Ninh Thuận và Bình Thuận); vùng Tây Nam Bộ (cộng đồng địa phương người Chăm Biruw ở An Giang, Tây Ninh và Tp. Hồ Chí Minh) [Thành Phần, 2012:89]. Continue reading

Tục thờ Kut của người Chăm Bàlamôn

 Su Van Ngoc

Người Chăm ở hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận theo hai đạo: Hồi giáo Bàni gọi là Cam Awal, khi chết xác được địa táng. Khu nghĩa địa cũng gọi là Ghur. Người Chăm theo đạo Bàlamôn gọi là Cam Ahier, khi người chết, xác được hỏa táng, khu nghĩa địa gọi là Kut. Ở người Chăm Bàlamôn, mỗi tộc họ phải xây dựng một nhà Kut chung để thờ các bậc tổ tiên quá cố của họ tộc mình. Nhà Kut còn được gọi là sang muk kei (có nghĩa là nhà tổ). Theo quan niệm của người Chăm Bàlamôn, họ tộc nào không có nhà Kut sẽ bị dân làng mỉa mai, chê cười cho là không có tổ tông.

Việc xây dựng Kut do Po adhia thực hiện với nhiều nghi lễ phức tạp và tốn kém. Bài viết dưới đây xin trình bày đôi nét về tục thờ Kut của họ.

Continue reading

Nam quyền trong chế độ mẫu hệ ở Việt Nam

TS. LÝ TÙNG HIẾU (Khoa Văn hoá học, Trường Đại học KHXH & NV TP.HCM)

cropped-cropped-cropped-cropped-cropped-74146_546684182016722_1702640601_n21.jpgỞ Việt Nam, xét về văn hoá tổ chức đời sống cộng đồng dựa trên tương quan nam nữ, đang tồn tại cả ba chế độ gia đình phụ hệ, song hệ, và mẫu hệ, không kể những hình thức chuyển tiếp, tàn dư. Trong đó, phổ biến nhất là chế độ gia đình phụ hệ; từ người Việt đa số đến các tộc người thiểu số cư trú ở các vùng miền như Thái, Mường, Tày, Nùng, Dao, Mông, Brũ, Ta-ioh, Katu, Mạ, Stiêng, Hoa, v.v. đều theo chế độ gia đình phụ hệ từ lâu. Chế độ gia đình song hệ chỉ phổ biến ở các tộc người Sedang, Bahnar, Gié-Triêng, Hrê thuộc ngữ hệ Nam Á (Austro-Asiatic) ở Bắc Tây Nguyên, và ở người Khmer Nam Bộ. Còn chế độ mẫu hệ thì phổ biến ở các tộc người Chăm, Jarai, Êđê, Raglai, Churu thuộc ngữ hệ Nam Đảo (Austronesian), cư trú ở Nam Trung Bộ – Tây Nguyên, và ở các tộc người M’nông, K’ho thuộc ngữ hệ Nam Á, cư trú ở Nam Tây Nguyên bên cạnh các tộc người Nam Đảo. Continue reading

VAI TRÒ TRÍ THỨC BẢN ĐỊA CỦA NGƯỜI CHĂM NINH THUẬN TRONG ỨNG XỬ VỚI MÔI TRƯỜNG NƯỚC

VAI TRÒ TRÍ THỨC BẢN ĐỊA CỦA NGƯỜI CHĂM NINH THUẬN TRONG ỨNG XỬ VỚI MÔI TRƯỜNG NƯỚC

TS Phan Quốc Anh

1. Tri thức bản địa của người Chăm trong mối quan hệ tương tác với tự nhiên.

Con người là một thực thể của tự nhiên, sinh ra từ tự nhiên và sống cùng, sống với tự nhiên. Tri thức bản địa là những kinh nghiệm được đúc kết qua hàng nghìn năm của mỗi dân tộc. Người Chăm cũng như các cư dân Đông Nam Á khác, có nền văn hoá nông nghiệp lúa nước phát triển sớm và có kho tàng tri thức bán địa phong phú. Tri thức bản địa là một tập hợp, bao gồm cả những tri thức có tính chất khoa học trong việc cải tạo thiên nhiên và cả những tri thức mang tính siêu hình là tín ngưỡng tôn thờ, cầu cúng các vị nhiên thần. Tri thức bản địa của người Chăm cũng vậy, bên cạnh những hệ thống dẫn thuỷ nhập điền được xây dựng cách đây hàng nghìn năm, người Chăm vẫn giữ được hệ thống nghi lễ cầu mưa, cầu mùa, chứa đựng kho tàng văn hoá bản địa phong phú. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập đến tri  thức bản địa của người Chăm vùng Ninh Thuận – Bình Thuận trong việc ứng xử với môi trường nước.
2. Vùng người Chăm sinh sống – vùng đất khát
Người Chăm cư trú dọc theo vùng đồng bằng nhỏ hẹp miền Trung, nơi có điều kiện địa lý khí hậu khắc nghiệt. Theo sử Trung Quốc , đoạn miêu tả Chiêm Thành trong Lingwai Daida, soạn năm  1178 có ghi: “tất cả đất đai đều là cát trắng,  đất trồng trọt được thì rất hiếm”.¬¬  Vùng đất Panduranga  có các dãy núi cao bao bọc đã tạo nên những bức bình phong chắn những luồng gió mùa Đông – Bắc và Tây – Nam mang mây và mưa tới tới vùng đất khô hạn này. Vùng Panduranga (Phan Rang) có lượng mưa ít nhất Việt Nam (695m/m) và chỉ có mưa trong vòng 52 ngày. Độ bức xạ ở đây lớn, nhiệt độ trung bình hàng năm từ 27 – 28oC. Vùng đất lòng chảo Phan Rang chịu ảnh hưởng gió mùa Đông – Bắc thổi mạnh và liên tục từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau. Từ sau tháng 12 là mùa khô, gió chướng và nắng hạn. Đa phần đất nông nghiệp không canh tác được vì thiếu nước. Địa hình đồng ruộng của người Chăm ở Ninh Thuận chủ yếu là ở trong vùng lòng chảo, được bao bọc bởi các dãy núi nên mùa khô thì rất khô hạn, nhưng vào mùa mưa lại hay bị lũ quét và ngập úng.
Bờ biển ở miền Trung gồ gãy, nhiều nơi núi cao ăn lan ra tận biển, có những ngọn núi sát biển cao tới hàng nghìn mét hình thành nên những con suối nước ngọt chảy từ trên núi xuống, từ trong núi ra tạo thành những mạch nước ngọt ngầm ngay bờ biển. Đây cũng là lý do giải thích vì sao dọc bờ biển lại có những giếng nước ngọt cổ Chăm (giếng Hời) mà xa xưa là nguồn cung cấp nước ngọt cho tàu thuyền qua lại trên “con đường tơ lụa”.
3. Tri thức bản địa của người Chăm trong việc cải tạo môi trường nước
Để phát triển nông nghiệp trên một vùng đất không hề thuận lợi, các triều đại Chăm Pa xưa đã tiến hành xây dựng các công trình thuỷ lợi. Hệ thống Đập Nha Trinh do Po Klongrai (1151- 1205) xây dựng bao gồm một đập ngăn nước trên nguồn sông Cái, bốn đập nhỏ và hai con mương, mương Cái và mương Đực. Mương Cái dài khoảng 60 km, mương Đực dài khoảng 50 km. Hệ thống đó có thể tưới cho trên một vạn hecta gieo trồng. Đập Ma Rên do Vua Po Rame (1627-1651) xây dựng trên sông Biêu, ngoài đập chính còn có 7 đập nhỏ và một hệ thống gồm các mương con. Mỗi làng Chăm có một người chuyên trách về thuỷ lợi gọi là “cai đập” với nhiệm vụ trông coi, tu sửa đập và mương nước. Tuỳ theo thế đất và chất đất, đồng bào Chăm chia ruộng ra thành nhiều loại:
– Thuỷ điền (Hamu dhong): ruộng ở đồng sâu, được coi là loại tốt nhất.
– Ruộng  trầm thuỷ (Hamu ya) : ruộng ngập nước quanh năm.
– Sơn điền ( Hamu eilon): Ruộng khô ven núi.
Để chinh phục sự khắc nghiệt của thời tiết, khí hậu, người Chăm từ xa xưa người Chăm đã biết khai mương, đắp đập dẫn nước vào ruộng với một hệ thống thuỷ lợi khá hoàn chỉnh: đập (banơk), kênh (bara), mương (rabaong), hồ chứa (can), mương lớn (rabaong inư), mương dẫn (rabaong naih), mương tiêu (rabaong lah) v.v…với phương thức đưa dẫn nước hợp lý,  phù hợp với từng địa hình.
4. Tín ngưỡng bản địa của người Chăm trong ứng xử với môi trường nước.
4.1. Sự hỗn dung trong tín ngưỡng tôn giáo Chăm
Văn hóa Chăm là sự hỗn dung tín ngưỡng và tôn giáo. Tín ngưỡng bản địa là cái có trước. Về sau, tôn giáo du nhập vào dân tộc Chăm và bị tín ngưỡng bản địa hoá hình thành nên văn hoá truyền thống Chăm.
Về không gian, văn hóa Chăm nằm trong cơ tầng văn hóa Đông Nam Á với tín ngưỡng nông nghiệp lúa nước, đồng thời chịu ảnh hưởng sâu đậm của văn hóa Ấn Độ thông qua các tôn giáo mà người Chăm tiếp nhận. Về thời gian, xuất phát từ cơ tầng văn hóa Đông Nam Á bản địa, vào đầu công nguyên, người Chăm tiếp nhận Bàlamôn giáo, tiếp đó là Phật giáo, Ấn giáo. Khoảng sau thế kỷ X, người Chăm tiếp nhận Hồi giáo.
Trước khi tiếp xúc với nền văn minh Ấn Độ, người Chăm đã có một nền văn hoá bản địa nằm trong cơ tầng văn hoá Đông Nam Á, một nền văn hoá mang nặng dấu ấn của tín ngưỡng nông nghiệp lúa nước – tín ngưỡng vạn vật hữu linh. Khi tiếp xúc với văn hoá Ấn Độ thông qua các tôn giáo như Bàlamôn giáo, Ấn Độ giáo, người Chăm lại tiếp nhận những tôn giáo vốn có nguồn gốc tín ngưỡng đa thần (Bàlamôn giáo). Vì vậy, hệ thống thần linh trong quan niệm của người Chăm rất đa dạng và phong phú. Ở ba tầng thiên – địa – nhân đâu đâu cũng có thần. Trên trời thì có thần trời, thần cha Yang Po, Yang A mư (Yang Po là thần trời, Yang A mư là thần cha) đây là hai vị thần tối cao thuộc dương, luôn đi cặp với nhau; thần mặt trời: Po Aditiak, thần gió Po Yang  Angin; thần mưa Po Yang Chan, thần bầu trời: Po Ligik. Trên mặt đât có thần lửa: Po Yang patah apui; thần tứ phương: Po Yang Akieng, thần biển: Po Yang Atow Tathik, thần núi Po Yang atơw Chơk, thần nước Po Patah ia. Dưới đất có thổ thần: Po Bhum, v.v…Với vùng đất khô hạn, từ xa xưa người Chăm đã có sự ứng xử vừa trân trọng, vừa thân thiện, vừa tôn thờ những gì liên quan tới các vị thần, liên quan đến các hiện tượng tự nhiên. Thái độ ứng xử với môi trường nước thể hiện trong hệ thống nghi lễ đa dạng, phong phú của người Chăm để cầu đến thế lực tâm linh, thần thánh thể hiện qua hệ thống nghi lễ vừa tạ, vừa cầu cho mưa thuận, gió hoà để canh tác lúa nước đạt kết quả cao.
Người Chăm quan niệm các nghi lễ nông nghiệp có liên quan đến các yếu tố ngũ hành, được thể hiện ở các nghi lễ sau:
– Ka tê: lễ cúng cha (trời), dương    Kim
– Chabul: lễ cúng mẹ (đất) âm     Thổ
– Yon yang: lễ tế thần hỏa      Hỏa
– Chakap halau krong: lễ tạ mộc và chặn nguồn nước Mộc
– Palao  sha: Thủy       Thủy:

Trong các nghi lễ của người Chăm bao giờ cũng phải có nước. Nước để tẩy trần. Các vị chức sắc trước khi làm một nghi lễ nào đó cũng phải làm lễ tẩy thể bằng nước sạch. Trong lễ “Rija Swa” (nằm thiếp) tôn chức Mu Rija bắt buộc phải có lễ thức tắm tẩy thể cho bà bóng. Trong lễ Ka tê, các chức sắc làm lễ tắm tượng Mukhalinga cho các vị vua – thần như Po Klongirai, Po Rame, Po Inư Nưgar. Những người dự lễ hứng lấy nước tắm tượng chảy ra để bôi lên đầu, lên mặt, lên cổ để cầu sự may mắn. Tri thức bản địa và thái độ ứng xử của cộng đồng người Chăm với nguồn nước còn thể hiện thông qua hệ thống nghi lễ cúng đầu nguồn, cuối nguồn nước, khai mương đắp đập và các nghi lễ tế thần thuỷ, cầu mưa, cầu đảo v.v…
4.2. Các nghi lễ liên quan đến nguồn nước
Với một điều kiện địa lý khí hậu khắc nghiệt, nghề trồng lúa nước phụ thuộc vào các hiện tượng tự nhiên và là điểm xuất phát của tín ngưỡng nông nghiệp với hệ thống nghi lễ dày đặc. Đó là các nghi lễ cầu mưa, lễ khai mương đắp đập và các nghi thức cúng tế các vị thần tự nhiên (nhiên thần). Trong các nghi lễ như hệ thống lễ Rija như Rija Nưgar, Rija Pruang, Rija Harei, Rija jơw và nhiều nghi lễ khác có những điệu múa phồn thực của On Kaing và Muh Rija, làm những động tác tính giao để cho âm dương giao hoà sinh ra nước và cho muôn loài sinh sôi nảy nở. Biểu tượng Shi va với bộ linga – yony là một biểu tượng âm dương có tính khái quát cao trong quan niệm nhân sinh quan, vũ trụ quan của người Chăm. Ngoài lễ thức phồn thực, trong lễ Rija Nưgar đầu năm của người Chăm còn có lễ thức đạp lửa với ý nghĩa tống ôn, tống đi cái nóng bức, những rác rưởi, những gì không may mắn của năm cũ.
Cũng bởi cư trú và sản xuất nông nghiệp trên một vùng đất khô hạn, nắng nóng đến khắc nghiệt, nên người Chăm có hàng loạt các nghi lễ liên quan đến cầu đảo, cầu mưa.
Lễ cầu đảo (Palau sah)
Đây là lễ liên quan đến cầu mưa, cầu nước được người Chăm tổ chức vào ngày chủ nhật và thứ hai của thượng tuần tháng 2 lịch Chăm ở các đền tháp Chăm và ở các cửa biển, là nghi lễ cộng đồng với sự tham gia đông đảo của cả người Chăm theo Bàlamôn và Bàni (Ahiêr và Awal) đến từ tất cả các làng Chăm ở Ninh Thuận theo ba khu vực tôn giáo:
1. Khu vực tháp Po Klongirai gồm các palei (làng) Hoài Trung, Chắt thường, Hiếu Lễ, Phước Đồng, Phú Nhuận, Lương Tri, Thành Ý, An Nhơn, Phước Nhơn và Bĩnh Nghĩa.
2. Khu vực đền Po Inư Nưgar gồm các palei Như Bình, Hữu Đức, Bầu Trúc, Thành Tín, Tuấn Tú
3. Khu vực tháp Po Rame gồm các làng Hậu Sanh, Vụ Bổn, Hiếu Thiện, Phước Lập, Chung Mỹ, Mỹ Nghiệp, Văn Lâm.
Lễ Palau sah được tổ chức ở các cửa biển. Cộng đồng Chăm ở khu vực tháp Po Klongirai làm lễ ở cửa Nại (Phương Hải, Ninh Hải), cộng đồng Chăm thuộc khu vực đền Po Inư Nưgar làm lễ tại cửa biển Phú Thọ (Thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, cộng đồng Chăm thuộc tháp Po Rame làm lễ tại cửa biển Cà Ná (Phước Diêm, Ninh Phước). Đây là một trong những nghi lễ được tổ chức quy mô nhất trong hệ thống nghi lễ của người Chăm, là sự tổng hợp các lễ thức của người Chăm, cúng các vị thần chung của người Chăm Bàlamôn (yang bimon-  yang aklak) và Bàni (yang birow – thánh Ala) và các vị thần núi, thần sông, thần biển. Lễ này tập hợp của các chức sắc, các thầy chủ lễ dân gian của cả hai tôn giáo gồm các vị cả sư Po Adhia của Balamon, các vị Achar bên Awal cùng các thầy chủ lễ dân gian như Mưduon (thầy vỗ), Kadhar (thầy cò ke kéo đàn Rabap), thầy Kaing (ông bóng), Mu pa jơw (bà bóng), ông cai đập (binưk), ông cai mương (hamu ia) v.v…
Vào các ngày đã được các thầy Cả sư chọn, các làng Chăm tập trung về các cửa biển để làm lễ. Lễ vật dâng cúng trong lễ gồm dê, gà, cơm canh, rượu, trứng, bánh tét, bánh chàcung, chè, xôi, trầu cau, các sản vật nông nghiệp khác như lúa, hạt kê, bắp, đậu, hạt nổ…
Lễ được tổ chức trong 2 ngày. Lễ ‘vào” vào ngày chủ nhất, lễ “ra” vào thứ hai. Chiều chủ nhật những người phục vụ và các chức sắc làm lễ dựng rạp. Người ta dựng 5 cái rạp theo quan niệm ngũ hành: Rạp 1: nơi tế của chức sắc Bàlamôn; Rạp 2: nơi tế tự của Chức sắc Bani; Rạp 3: của thầy vỗ mưduôn và bà bóng Mu Rija; Rạp 4: On Kaing; Rạp 5: Kadhar – Mu pa jơw. Các chức sắc Bàlamôn mở cửa hướng đông, chức sắc Bàni mở cửa hướng tây. Chủ lễ chính của lễ này do thầy vỗ trống pasa nưng (mư duôn) và ông bóng (ka – ing) thực hiện. Ông thầy vỗ đánh trống hát mời các vị thần núi (Po cơh), thần sông biển (Po riyak), thần chèo thuyền (Po tang ahuak), thần giữ rừng trầm (Po gilau)  và các nhân thần có công dẫn thuỷ nhập điền như Po Klongirai, Po Rame.v.v…Lễ vật có: thịt dê, thịt gà, trứng, bánh, rượu. lễ cúng diễn ra buổi chiều. Tối đến làm lễ chè xôi. Đêm đến thầy Cả sư và phó cả sư đọc hết 3 cuốn kinh lớn của Bàlamon để cầu nguyện thần biển đến sáng
Sáng hôm sau, người ta làm mâm Shali (hình nhân thế mạng làm bằng bột gạo) để làm lễ tế thần hỏa. Ông Ka – ing đốt bó cỏ tranh, coi bó cỏ tranh bên nào cháy ít, bên nào cháy nhiều để bói thời tiết. Năm nào mưa nhiều, năm nào hạn nhiều là do bó tranh cháy ít hay cháy nhiều. Để làm lễ thả hình nhân thế mạng (shali) ra biển, người ta thịt và cúng một con dê. Ở mỗi rạp lễ lại có các hình thức tế lễ riêng. Tại rạp On Mưduon và Mu rija: hành lễ theo các nghi lễ của lễ Rija yau (lễ múa ban đêm, cầu khấn cho năm mới những điều tôt lành (cầu thần Mã lai). Tại rạp On Mưduôn và On Kaing, lễ được thầy vỗ và bà bóng thực hiện như trong lễ Rija haray (lễ múa ban ngày). Ở rạp On kadhar và Mu Pajơw, thầy cò ke kéo đàn hát mời các vị thần về dự lễ và bà bóng múa cầu cho mưa thuận gió hoà, mùa màng tốt tươi.
Lễ Palau sah khá phức tạp và diễn ra nhiều tiểu lễ vì đây là nghi lễ có tính chất tổng hợp của các nghi lễ vừa mang tín ngưỡng dân gian vừa mang tính chất tôn giáo. Trong đó có các tiểu lễ như Lễ rước gậy thần của tu sĩ Acar (Gay bhong), do nhóm tu sĩ Chăm Awal thực hiện. Đây là lễ rước gậy lễ rao giảng kinh của thánh Mohamet từ thánh được Hồi giáo đến cửa sông, cửa biển để cầu mưa. Lễ tế thần lửa (Cuh yang apui). Lễ này do tu sĩ Pashe thực hiện, mục đích là cúng các vị thần ở các đền tháp và cúng thần lửa (yang apui), cầu thần đem lại lửa làm sấm chớp, mây, mưa, cầu cho mưa thuận gió hoà. Theo quan niệm của người Chăm, đây là lễ khai thông đất trời, khai thông nguồn sông nguồn suối từ trên đầu nguồn đến cuối nguồn, âm dương giao hoà. Trong nghi lễ có nghi thức bà bóng có điệu múa phồn thực biểu thị tính giao cho âm dương hoà hợp, cầu cho sự sinh sôi nẩy nở, mọi vật sinh trưởng, hoa lá đâm chồi nảy lộc, cây cối tốt tươi. Nghi lễ này trong cộng đồng người Chăm đã tồn tại từ bao đời nay, là biểu hiện sự ứng xử thân thiện với môi trường tự nhiên. Ngày xưa, cứ 3 năm một lần làm lễ Palau sah lớn, 1 năm làm một lễ nhỏ. Lễ nhỏ chỉ cúng 5 gà. Nhưng đã từ lâu, vì nhiều lý do, nghi lễ này không còn được duy trì.
Lễ “cầu mùa”, “tạ hoả, cầu mưa” (Yor Yang)
Sau lễ Rija Nưgar vào tháng 1, lễ Palau Rija sah vào tháng 2, thì đến thượng tuần tháng 4 (Chăm lịch), cộng đồng Chăm lại tổ chức làm lễ tạ hoả, cầu mưa. Lễ này được tổ chức vào 2 ngày: Chủ nhật và thứ hai.
Theo nông lịch cổ truyền Chăm, tháng 4 mới thực sự là mùa cày cấy. Theo kinh nghiệm dân gian về thiên văn thì lúc này các vì sao Tuarua, sao Cày, Thần nông đểu đã xuất hiện và bắt đầu thời điểm chuyển từ mùa khô sang mùa mưa. Lễ này một mặt tế thần lửa, một mặt để cầu mưa vào đúng thời điểm để gieo trồng. Địa điểm tổ chức tại ba khu vực đền tháp của người Chăm Bàlamôn gồm Po Klongirai, tháp Po Rame và đền Po Inư Nưgar. Lễ Yor yang có mục đích tế thần lửa tại các tháp và cầu mưa xuống để sản xuất nông nghiệp. Chủ lễ là ông thầy cả (Po Dhia), ông thầy kéo đàn ka nhi (Kadhah), các chức sắc pà xế (Pashe), bà bóng (Mu Pajơw), người giữ đền tháp (Chamưnei).
Lễ cầu mưa còn có ý nghĩa là lễ hạ điền. Ông cai lệ đã chọn sẵn ruộng để làm lễ cày ruộng và ông cày ba đường tượng trưng. Theo quy định, phải dùng hai con trâu để cày, không được dùng bò. Lễ vật dâng cúng là những sản vật nông nghiệp. Ngày lễ “vào” gồm một cặp gà, bánh tét, bánh chà cung, chuối, trầu cau, nến sáp ong. Lễ vật trong ngày lễ “ra” tương tự như ngày lễ “vào” nhưng thay thế cặp gà bằng một con dê (vào gà ra ngạnh). Bà con Chăm cư trú theo khu vực đền, tháp đưa lễ vật lên tháp dâng cúng để tạ ơn thần thánh và cầu xin một mùa mới mưa thuận gió hoà, gặp nhiều may mắn và được mùa. Trong dịp này, dân chúng đội mâm lễ lên tháp cúng tạ, cúng mừng và cúng vay các vị thần linh.
Lễ Yor yang gồm các tiểu lễ: lễ tẩy uế đền tháp, lễ trình, lễ mở cửa tháp, lễ tắm tượng và mặc y trang cho biểu tượng mukha linga trong đền tháp, lễ tế thần lửa tại tháp lửa.
Lễ “khai mương đắp đập” (taleh jamưng tăm)
Ngay sau khi làm xong lễ tế thần lửa, sáng ngày hôm sau, các chức sắc và cộng đồng Chăm lại tiến hành lễ khai mương đắp đập tại một địa điểm ở khu vực sông Dinh (ngày xưa thực hiện ở đập Lâm Cấm, đập Ô Căm). Lễ này gồm ông thầy cò ke (Kadhar), bà bóng (Mu Pajơw) và cai đập (Binưk) thực hiện.  Lễ vật gồm 1 cặp gà, 5 mâm cơm canh, rượu, trứng, trầu cau. Các thầy chủ lễ hát thỉnh mời các vị thần có công trong sản xuất nông nghiệp Chăm như Po Inư Nưgar, Po Klongirai, Po Rame, Po Tang, Po Gilau, Po Klong Kachait, On Pasa, Mu Caklinh v.v…xin phép các vị thần cho đắp đập, ngăn sông đưa nước về đồng ruộng. Sau khi cúng tế, ông cai đập đem cọc đến làm phép đóng xuống bờ sông. Lễ kết thúc bằng lễ thức thả một con gà con xuống sông. Lễ này nhằm mục đích giáo dục, nhắc nhở dân làng trong thái độ ứng xử với nguồn nước, thường xuyên đắp đập, nạo vét kênh mương để khai thông cũng như ngăn chặn các dòng nước phục vụ cho cày cấy, trồng trọt .
Lễ “chặn nguồn nước” (Kap kraung halơw)
Nếu như lễ Palau rija sah và Yôr yang là những nghi lễ để cầu mưa, đưa nước về tưới cho ruộng đồng thì lễ chặn nguồn nước (Chakap kroong halơw) là lễ cúng nhằm ngăn các nguồn nước từ các dòng sông lớn làm cho ruộng đồng lũ lụt. Mục đich của lễ còn là tạ ơn trời đất, thần thánh đã cho mưa xuống để cấy cày nhưng mặt khác cũng xin ngưng mưa để không bị ngập úng cho lúa chín bước vào mùa thu hoạch.
Người Chăm quan niệm, nước là từ rễ cây sinh ra (lâm sinh thuỷ), rừng là nơi lưu giữ nước. Trên đầu nguồn nước luôn có thần đầu nguồn cai quản và hàng năm phải cúng tế để vị thần này để điều hoà lượng nước, không gây lũ về tàn phá ruộng đồng. Địa điểm hành lễ chặn nguồn nước ở đầu nguồn các con sông lớn, với sự tham gia của cả 2 cộng đồng Chăm do các tu sĩ Po Acarr, On binưk (cai đập) thực hiện.
Thời gian hành lễ trong 2 ngày thứ năm và thứ sáu của thượng tuần trăng tháng 8 lịch Chăm. Lễ vật dâng cúng có gà, dê, cơm, canh, rượu, trứng, chuối, trầu cau v.v…Chủ lễ này gồm cả chức sắc của 2 tôn giáo Chăm và ông cai đập (binưk), bà đơm cơm (mu puh) Bàni. Các nghi thức tương tự như hành lễ Palau sah. Lễ rước gậy rao giảng kinh của Mohamet ở trong thánh đường đến cửa sông do 9 tu sĩ Bàni mặc trang phục màu đen hành lễ. Các Po Acar đọc kinh Coran cầu nguyện thánh Ala xin đừng mưa nhiều, gây lũ lụt, ngập úng. Khi kết thúc lễ, các tu sĩ ở trần lội xuống sông làm lễ té nước.
Lễ tạ mộc (Paká Halau Kraung)
Lễ này được tổ chức vào hai ngày: thứ năm và thứ sáu hạ tuần trăng của tháng bảy lịch Chăm.
Địa điểm tổ chức tại ba cửa rừng phía tây Ninh Thuận (đập Nha Trinh, đập Cà Tiêu, Suối Gạo). Chủ lễ là các chức sắc tôn giáo của hai đạo.
4.3. Tri thức bản địa của người Chăm thể hiện thái độ ứng xử thân thiện và tôn thờ nguồn nước.
Với một vùng đất thiếu mưa, thừa nắng như ở cực Nam Trung bộ, từ xa xưa, người Chăm đã thấy tầm quan trọng của nguồn nước trong đời sống sản xuất nông nghiệp nói chung và nghề trồng lúa nước nói riêng. Bên cạnh việc xây dựng hệ thống thuỷ lợi dẫn thuỷ nhập điền có tính khoa học cao, người Chăm đã có thái độ ứng xử thân thiện, tôn thờ với môi trường tự nhiên nói chung và với nguồn nước nói riêng. Với tín ngưỡng bản địa vạn vật hữu linh nằm chung trong cơ tầng văn hoá Đông Nam Á, người Chăm quan niệm thế giới tự nhiên là thế giới của vô số các vị thần. Ngoài hệ thống nhân thần, người Chăm còn thần thánh hoá những nhân vật có thật trong lịch sử đã có công trong việc dẫn thuỷ nhập điền như Po Klongirai, Po Rame v.v…Quan niệm của người Chăm về việc ứng xử với môi trường nước được thể hiện qua hệ thống nghi lễ nông nghiệp khá hoàn chỉnh mà tiêu biểu là các lễ cầu mưa, lễ tế thần lửa để cầu mưa, lễ khai mương đắp đập và lễ chặn nguồn nước. Những nghi lễ ấy thể hiện thái độ ứng xử với môi trường nước từ khi cầu mưa xuống, khai mương cho nước vào đồng ruộng rồi đắp đập ngăn không cho nước không gây lũ lụt ngập úng. Những lễ diễn ra từ đầu nguồn nước, trên đồng ruộng và cuối nguồn nước, nơi nguồn nước đổ ra biển cả và lại bốc hơi lên làm mưa theo quy luật đất trời, vũ trụ và nhất quán thành một hệ thống. Những nghi lễ này cũng thể hiện quan niệm của người Chăm Bàlamôn, con người là thực thể được hình thành từ vũ trụ, con người là Atman trong Brahman bao la vô vùng vô tận. Thế nhưng, ngày nay, có một số nghi lễ đã không còn tồn tại. Việc có nên khôi phục lại hoàn chỉnh các nghi lễ liên quan đến tín ngưỡng đối với nguồn nước là những việc chúng ta cần bàn và quan trọng hơn cả là sự tự nguyện đề xuất của hội đồng phong tục Chăm.
Trong những năm gần đây, với điều kiện khắc nghiệt về thời tiết, mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng tỉnh Ninh Thuận đã tập trung xây dựng những công trình thuỷ lợi lớn với sự đầu tư hàng nghìn tỷ đồng để làm các hồ chứa nước như Hồ Tân Giang, Sông Sắc, Sông Trâu, Tân Mỹ, Sông Ông, sông Bươu v.v… từ đầu nguồn. Môi trường cũng như nguồn nước của vùng đất “sa thảo” Ninh Thuận nay đã được cải thiện đáng kể, sản xuất nông nghiệp của nông dân Ninh Thuận ngày càng thuận lợi.
Tuy nhiên, bên cạnh những biện pháp cải tạo thiên nhiên, tín ngưỡng bản địa trong quan niệm ứng xử đối với các hiện tượng mưa nắng của tự nhiên vẫn giữ một phần quan trọng trong cộng đồng người Chăm. Tín ngưỡng là niềm tin tồn tại vĩnh hằng, người nông dân vẫn phải phụ thuộc vào điều kiện thời tiết. Sự tồn tại của các tôn giáo trong cộng đồng người Chăm Nam Trung bộ cũng chính là môi trường bảo tồn văn hoá Chăm truyền thống. Lễ hội là nơi gìn giữ và phát huy được những yếu tố văn hoá cổ truyền, trong đó có thái độ ứng xử vừa hoà mình thân thiện, vừa cải tạo và trân trọng, sùng bái thiên nhiên,. Nguồn nước là cái đầu tiên của nền sản xuất nông nghiệp lúa nước nên luôn được coi trọng. Việc có nên khôi phục lại các nghi lễ trong hệ thống nghi lễ đối với nguồn nước của người Chăm là vấn đề đang đặt ra cho các nhà nghiên cứu và quản lý văn hoá, nhất là trong giai đoạn phát triển văn hoá dân tộc gắn với phát triển du lịch như hiện nay.