TÌNH HÌNH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA CHĂM

Mình cùng với một số bạn đã tham dự hôị thaỏ này tại Viện KHXH vùngNam bộ. Thấy bài naỳ hay nên post cho các bạn xem:

 

TÌNH HÌNH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY DI SẢN VĂN HÓA CHĂM

(Nghiên cứu trường hợp văn tự akhar thrah của người Chăm)

Bài viết tham dự Hội nghị Thông báo Kết quả Nghiên cứu Khoa học Xã hội
Nam bộ 2008
ngày 7-8 tháng 11 năm 2008

TS. Thành Phần

Trung tâm Nghiên cứu Việt nam & Đông Nam Á

Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn – Đại Học Quốc Gia TP. Hồ Chí Minh10-12 Đinh Tiên Hoàng, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh

Người Chăm là một dân tộc có nền văn hóa đặc sắc, phong phú, đa dạng và có một văn minh phát triển rực rỡ trong khu vực Đông Nam Á. Bằng chứng ngày nay vẫn còn lưu lại các công trình kiến trúc, điêu khắc, điệu múa, âm nhạc và đặc biệt là các văn tự ghi chép các giá trị lịch sử, văn hóa, văn minh của dân tộc Chăm và Champa.Mặc dù trãi qua nhiều giai đoạn thăng trầm của lịch sử, nhưng cho đến nay người Chăm đã lưu giữ và tìm cách bảo quản các văn bản ghi chép bằng văn tự có nguồn gốc từ sanskrit và arabic như là một di sản văn hóa được cha ông truyền lại từ bao đời nay. Trong bài phạm vi viết này, chúng tôi chủ yếu tập trung giới thiệu về văn tự Chăm có nguồn gốc từ sanskrit là chính.

1. Văn tự Chăm qua các thời kỳ

Về văn tự Chăm có nguồn gốc từ sanskrit, từ văn tự cổ xưa nhất cho đến văn tự hiện nay đang được sử dụng phổ biến ở trong mọi từng lớp của người Chăm, theo chúng tôi có thể chia ra là ba thời kỳ chính: (1) Văn tự thuộc thời kỳ cổ đại, (2) Văn tự thuộc thời kỳ trung đại, (3) Văn tự thuộc thời kỳ hiện đại.* Văn tự thuộc thời kỳ cổ đại là loại chữ thường được khắc trên các bia đá. Trong số đó, có văn tự trên bia đá tìm thấy ở Võ Cạnh[1], Khánh Vinh, thuộc tỉnh Khánh Hòa được đánh giá là cổ xưa nhất. Theo đoán định của G. Maspéro, căn cứ vào tự dạng, văn tự này có thể sớm hơn thế kỷ thứ III sau công nguyên. Theo Bergaine, có thể đây là tấm bia cổ nhất bằng chữ Phạn được tìm thấy lần đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á. Bởi vì, trong tấm bia này đa phần viết bằng văn tự rất cổ, so sánh ngang hàng với tấm bia nổi tiếng của Rudradanan ở Girnar, Ấn Độ[2].* Văn tự thuộc thời kỳ trung đại là loại chữ chủ yếu viết trên lá buông hay trên giấy. Loại văn tự này thường viết theo ba phong cách khác nhau[3]. Mỗi loại đều có tên gọi riêng như akhar rik, akhar yok, akhar tuer. Akhar rik là văn tự thường được dùng trong nghi thức tôn giáo được các giới tăng lữ và tu sĩ dùng để viết bùa chú hay phiên một số từ trong các văn bản viết tay. Nó có thể được xem như dấu gạch nối giữa văn tự cổ đại khắc trên đá với văn tự hiện đại viết trên giấy mà người Chăm đang sử dụng hiện nay. Trong Từ điển Chăm – Pháp (Dictionnaire Čam – Francaise)[4], Etienne Aymonier định nghĩa akhar rik như là một loại văn tự “thiêng liêng, tôn nghiêm”[5]. Ngày nay, loại chữ này ít người biết đọc, chủ yếu các vị tăng lữ và các vị tu sĩ lớn tuổi có thể biết đọc, biết viết. Cũng trong Từ điển Chăm – Pháp vừa mới nêu, Etienne Aymonier giới thiệu akhar yok như là một loại chữ “bí ẩn, thần bí”[6]. Thực ra, đây là một dạng văn tự dùng các mẫu tự phụ âm và các mẫu tự nguyên âm liên kết với nhau gần giống như cấu trúc văn tự Latinh. Do đó, Antoine Cabaton gọi akhar yok là “chữ viết che dấu”[7], hay nói cách khác, văn tự akhar yok là loại văn tự không sử dụng takai akhar (dấu chữ), mà chỉ sử dụng inâ akhar (mẫu tự, con chữ) kết nối với nhau. Còn akhar tuer, Éteinne Aymonier gọi  là “chữ treo, viết theo ký hiệu chữ đầu”. Đây là loại văn tự viết gần giống như văn tự cổ đại nhưng có khuynh hướng viết tắt đối với một số từ. Vì vậy, A. Cabaton gọi akhar tuer là “chữ tắt theo lối treo”[8]. Ví dụ thay vì viết “kubao” thì lại viết tắt thành “kuw”, hoặc thay vì viết pabaiy thì lại viết pabaing.* Loại văn tự thuộc thời kỳ hiện đại là loại chữ thông dụng được người Chăm sử dụng phổ biến để ghi chép các văn bản hành chính, các chứng từ pháp lý, các chỉ dụ của vua, các văn thơ, lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo, phong tục, tập quán v… v… Ngày nay, văn tự này được gọi là akhar  thrah. Có thể nói, trong các loại văn tự vừa nêu trên, chỉ có akhar thrah là loại văn tự được sử dụng ở trong mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi của người Chăm, từ các giới tăng lữ, tu sĩ, chức sắc, bô lão cho đến các giới nhân sĩ trí thức (bao gồm các trí hức Chăm có học vị khoa học hiện nay), sinh viên và nông dân Chăm[9]. Do đó, các văn bản hiện nay đang còn lưu giữ trong các gia đình của người Chăm ở Việt nam đa phần là akhar thrah[10]. Ngoài ra, chúng ta có thể tìm thấy văn bản này ở trong một số thư viện ở Việt
Nam, Mã Lai, Pháp, Hoa Kỳ.

2. Thực trạng bảo tồn akhar thrah của người Chăm hiện nay* Thực trạng bảo tồn văn tự akhar thrah ở trong các gia đình tăng lữ, tu sĩ:Số lượng văn bản viết bằng văn tự akhar thrah đa phần được lưu giữ ở trong các gia đình tăng lữ, tu sĩ người Chăm. Nó mang ý nghĩa như một bảo bối và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Các văn bản này được sao chép rất cẩn thận khi cá nhân này trở thành thành viên của tầng lớp chức sắc. Vì vậy, hầu hết số lượng văn bản viết bằng văn tự akhar thrah được bảo quản rất tốt và xem như là gia bảo, là hình ảnh tiền bối trên con đường hành nghề của mình.Trước đây, số lượng văn bản viết bằng văn tự akhar thrah lưu giữ ở trong các gia đình chức sắc Chăm đều được bọc bằng vải, hoặc để trong rương làm bằng mây hoặc gỗ. Nhân tố nắng mưa ít làm tác hại. Thông dụng hơn cả là chúng được giữ trong những chiếc giỏ mây tre (aciét) treo dưới trần nhà. Riêng những cuốn sách thông dụng, được sử dụng hàng ngày như những cẩm nang, được xếp ngay ngắn trên Kla tapuk (giá sách) gần danaok
Po Gru
(bàn thờ tổ)[11].  Hàng năm, theo tục lệ của người Chăm, các gia đình lưu giữ những cuốn sách của cha ông để lại, thường thực hiện nghi thức “kiểm tra sách” gọi là Pambang akhar (báo cáo với với tổ tiên và bậc tiền bối) và Pahuer akhar (làm trong sạch chữ). Nhưng ngày nay, nhiều chức sắc không còn hưởng bổng lộc từ ruộng đất của gia đình, dòng họ, làng xã, chùa chiềng nên họ buộc phải tập trung thời gian và sức lực để mưu sinh nuôi sống gia đình, không còn thời gian để luyện tập kinh kệ thường xuyên và chăm sóc các tập sách do tổ tiên để lại một cách đều đặn như trước đây nữa.* Thực trạng lưu giữ văn tự akhar thrah ở trong các gia đình nhân sĩ, trí thức Chăm:Trước đây, khá nhiều đội ngũ nhân sĩ, trí thức Chăm quan tâm đến lịch sử, văn hóa, xã hội, phong tục tập quán, nên thường chú trọng đến việc tìm hiểu văn hoá cộng đồng mình qua các văn bản hay thư tịch viết bằng akhar thrah. Do đó, ở trong các gia đình nhân sĩ, trí thức Chăm thường có ý thức lưu trữ và bảo tồn khá tốt những văn bản viết tay bằng văn tự akhar thrah. Nhưng ngày nay, những lớp thế hệ trên đang lần lượt ra đi và không còn nhiều. Còn các thế hệ trẻ hiện nay, đa số không quan tâm đến việc bảo tồn và phát huy akhar thrah như thế hệ trước đây nữa. Từ sự vô tâm của các thế hệ trẻ ngày nay trở thành nguyên nhân đưa đẩy những văn bản hay thư tịch bằng văn tự akhar thrah của người Chăm đến sự huỷ hoại, hư hao, mất mát ngày càng trầm trọng hơn.* Thực trạng lưu giữ các văn bản bằng văn tự akhar thrah ở trong các Thư viện và Trung tâm Nghiên cứu: Sau một thời gian dài không một ai tiếp tục quan tâm đến việc nghiên cứu và sưu tầm văn bản akhar thrah của người Chăm, Trung tâm Lịch sử và Văn minh Bán đảo Đông Dương bắt đầu kiểm kê lại tư liệu Chăm ở trong các kho lưu trữ của các thư viện Pháp vào năm 1969 cho thấy, nơi đây lưu giữ các văn bản bằng akhar thrah với số lượng rất đáng kể, gồm có tất cả là 347 tập[12]. Kế đó, sau năm 1969, ở Phan Rang tỉnh Ninh Thuận hình thành Trung Tâm Nghiên Cứu Văn Hoá Chăm, do một học giả người Pháp G. Moussay sáng lập ra. Trong thời gian hoạt động, nhờ có sự cộng tác của các trí thức Chăm, Trung tâm này đã thu thập được một số văn bản viết tay bằng akhar thrah. Nhưng từ sau năm 1975, những văn bản này phần lớn đã được chuyển sang Pháp, một số còn lại hầu như ít ai quan tâm đến nên đã bị thất lạc khá nhiều.Theo thống kê của Trung Tâm Nghiên Cứu Văn Hoá Chăm, ở đây lưu trữ khoảng chừng 3.000 trang photocopy (khoảng 95 tập), 550 cuộn phim trắng đen 336 cuộn băng (khoảng chừng 336 cuộn, tương ứng với 20.000 trang), 12 tập văn bản gốc của người Raglai và 7 tập văn bản gốc viết trên lá buông[13]. Những năm gần đây, Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn, Đại Học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành nghiên cứu và sưu tầm văn tự akhar thrah của người Chăm do Toyota Foundation tài trợ. Chương trình này đã được thực hiện từ tháng 12/1998 đến tháng 12/2002. Qua chương trình này, họ đã sưu tập được trên 500 tập với khoảng 10.000 trang viết tay với nhiều kích cở khác nhau[14].

3. Thực trạng truyền dạy akhar thrah của người Chăm hiện nayTrước năm 1975, văn tự akhar thrah chủ yếu được truyền dạy cho thế trẻ bởi các tăng lữ, tu sĩ, chức sắc hay các bô lão. Do đó, phương pháp dạy học chủ yếu theo phương pháp truyền thống. Sau năm 1975, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước Việt
Nam, văn tự akhar thrah được tổ chức dạy cho các em học sinh ở cấp bậc tiểu học.Để đáp ứng chương trình giảng dạy chữ Chăm ở các trường tiểu học, tỉnh Thuận Hải (nay tách thành hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận) thành lập Ban biên soạn sách chữ Chăm từ rất sớm. Cơ quan của Ban biên soạn đặt tại tỉnh Ninh Thuận ngày nay. Đến nay, Ban biên soạn sách chữ Chăm đã biên soạn nhiều giáo trình tiếng Chăm, từ lớp 1 đến lớp 5. Đây là giáo trình chính thức được giảng dạy chữ Chăm ở trong Trường Tiểu học hiện nay. Kết quả của chương trình giảng dạy chữ Chăm ở các Trường Tiểu học đã giúp các thế hệ trẻ người Chăm có điều kiện thuận lợi tiếp cận akhar thrah cải biên theo Ban biên soạn sách chữ Chăm hơn là akhar thrah của gia đình họ đang lưu giữ. Vì vậy, sau 5 năm theo học chữ Chăm ở bậc tiểu học, các em học sinh Chăm không đọc được akhar thrah do cha ông họ để lại. Có nghĩa là không có triển vọng bảo tồn và phát huy di sản văn hóa truyền thống dân tộc của chính họ.Lý do chính dẫn đến thực trạng giảng dạy akhar thrah theo giáo trình của Ban biên soạn sách chữ Chăm là: Thứ nhất, mục tiêu biên soạn giáo trình không nhằm mục đích giảng dạy akhar thrah từ tổ tiên của người Chăm để lại.Thứ hai, người soạn thảo giáo trình tự ý biến đổi hệ thống cấu trúc văn tự akhar thrah theo cách riêng của mình.Thứ ba, việc biến đổi hệ thống cấu trúc văn tự của akhar thrah theo Ban biên soạn sách chữ Chăm là việc làm mang tính chủ quan, không có căn cứ cơ sở khoa học. Thư tư, Hội đồng thẩm định sách giáo khoa dạy chữ Chăm không am hiểu sâu về akhar thrah của người Chăm nên đã dẫn đến thực trạng bi quan của akhar thrah như hiện nay. Chính vì lý do nêu trên, vô tình chúng ta đào một thế hệ trẻ Chăm đang đoạn tuyệt với sự tiếp nối thế hệ cha ông của họ. Đây là nguyên nhân trực tiếp làm cản trở việc bảo tồn di sản văn hóa Chăm nói chung, văn tự akhar thrah nói riêng.

Kết luậnVăn tự akhar thrah là di sản, là khối tài sản phi vật thể vô giá, nơi đó chứa những thông tin của tiền nhân, những thông điệp từ quá khứ mà không phải quốc gia nào, khu vực nào cũng có, cũng dồi dào. Những di sản văn hóa chỉ mất đi chứ không thể sản sinh thêm. Đặc biệt văn tự akhar thrah có vai trò rất quan trọng trong đời sống tinh thần của người Chăm. Nó không những thể hiện tư duy của cả cộng đồng tộc người mà còn thể hiện bản sắc văn hoá của dân tộc. Một khối lượng lớn những di sản văn tự akhar thrah lưu giữ trong các làng Chăm đang đứng trước nguy cơ báo động của sự hủy hoại. Hiện nay, các văn tự akhar thrah Chăm đang ở trong tình trạng báo động. Nhiều văn bản qúy giá đã và đang bị tàn phá bởi môi trường, khí hậu, côn trùng, mối mọt, chiến tranh, thời gian và sự vô tâm của con người.Nguyên nhân chính dẫn đến thực trạng trên là do các cơ quan chức năng chưa quan tâm đúng mức đối với tầm quan trọng của di sản văn hóa này. Nhất là việc đào tạo một thế hệ trẻ xa lạ với chính chữ viết truyền thống của cha ông họ để lại. Đây là nguồn tài liệu vô cùng qúy giá không chỉ đối với việc nghiên cứu lịch sử – văn hoá của dân tộc Chăm và vương quốc Champa nói riêng mà còn là những cứ liệu qúy để các nhà khoa học tìm hiểu về lịch sử và quá trình giao lưu văn giữa các nước trong khu vực Châu Á nói chung. Nếu chúng ta không có khắc phục kịp thời thì không bao lâu, những văn bản bằng akhar thrah sẽ không có cơ hội tồn tại và biến mất vĩnh viễn. Đây cũng là mối quan tâm lo lắng nhất đối với việc nghiên cứu, giảng dạy và bảo tồn di sản văn hoá Chăm nói chung, văn tự akhar thrah nói riêng.

Nhân đây, chúng tôi có một vài kiến nghị sau:

– Các cơ quan chức năng từ Trung ương đến địa phương nên có chương trình thực hiện kế hoạch sưu tầm, thống kê tất cả các văn bản akhar thrah hiện đang lưu giữ trong cộng đồng người Chăm.

– Các chủ nhân lưu giữ văn bản phải có chế độ kiểm tra định kỳ, đột xuất của cơ quan có chức năng và đảm bảo cho việc theo dõi chất lượng của tài liệu văn bản akhar thrah.

– Đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo thay đổi chương trình đào tạo tiếng Chăm ở cấp bậc Tiểu học theo mục tiêu bảo tồn và phát huy ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết của tổ tiên cha ông người Chăm để lại theo đúng chính sách, đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước. – Không cải biên văn tự akhar thrah theo Ban biên soạn chữ Chăm. Hãy để thế hệ trẻ con em người Chăm được học những gì mà chính tổ tiên và cha ông họ để lại.

Ts. Thành Phần

Tp. HCM, ngày 7/11/2008

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Aymonier Etienne, Cabaton Antoine, 1906. Dictionnaire Čam – Francais, E.F.E.O., Ernest Leroux, Éditeur,
Paris, pp. 90 – 154.

Bùi Khánh Thế, 1996. Ngữ pháp tiếng Chăm, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, 185 trang.

Cabaton Antoine, 1901. Les Chams, E.F.E.O., Ernest Leroux, Éditeur,
Paris, 215 p.

Collins J., 1991. Chamic, Malay and Acehnese : The Malay World and the Malayic Languages, trong Le Campa et Le Monde Malais, Paris, pp. 108 – 121.

Đạo Thanh Quyến, 2007. Tư liệu điền dã dân tộc học, tháng 1/2003.

Jacques Claude, 1995. Études épigraphiques sur le pays Cham, Réimpression de L’École Française d’Extrême Orient, No. 7,
Paris, pp. 169 – 171.

Karl – Heinz Golzio, 2004. Inscription of Campa based on the editions and translations of Abel Bergaigne, E1tienne Aymonier, Louis Finot, Édonard Huber and other French scholars and of the work of R. C. Majumdar, Sharker Verlag, Aachen, pp. 1 – 2.

Lafont P.-B., Po Dharma,
Nara Vija
, 1997. Catalogue des manuscripts Cam des bibliothques Francaises, Volume CXIV, EFEO,
Paris, 261 p.

Maspéro G., 1928. Le Royaume de Champa, Paris – Bruxelles, Brill, p. 45.

Moussay Gerard, 1971. Dictionnaire Căm – Vietnamien – Francais, Centre Culturel  Căm, Phanrang, 635 p.
Po Dharma, 1987. Le Panduranga (Campa) 1802 – 1835, EFEO,
Paris, 203 p.
Po Dharma, G. Moussay, Abdul Karim, 1997. Akayet Inra Patra, Koleksi Manuskrip Melayu Campa, No.1, Perpustakaan Negara
Malaysia, EFEO, Kuala Lumpua, 189 p.
Po Dharma, G. Moussay, Abdul Karim, 1998. Akayet Dowa Mano, Koleksi Manuskrip Melayu Campa, No1, Perpustakaan Negara Malaysia, EFEO, Kuala Lumpua, 215 p.

Ren Teygeler, 2001. Preservation of Archives in Tropical Climates – An annotated bibliography,
Jakarta, Indonesia, 328 p.

Thành Phần, 2001. Preservation of Manuscript of the Minority Area in Vietnam at the International Conference on Preservation of Archives in the Tropical Climates, in
Jakarta, Indonesia on November 5 – 8, 2001.

Thành Phần, 2002. Một số văn bản của dân tộc Chăm lưu trữ tại Pháp, Tạp chí Xưa & Nay, số 128, tháng 11/2002, tr. 21 – 23.Thành Phần, 2007. Danh mục thư tịch Chăm ở Việt
Nam,
Nxb. Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh, 517 trang.Thành Phần, Sakamoto, 2001. Khảo sát điền dã hiện trạng các văn bản viết tay của dân tộc thiểu số ở Nam Trung Bộ Việt Nam (tiếng Nhật), Tokyo Restoration and
Conversation
Center,
Tokyo, 52 trang. Thurgood Graham, 1999. From Ancient Cham to Modern Dialects – Two thousand years of language contact and change,University of
Hawaii Press, American, 407 p.


[1] Claude Jacques, 1995, pp. 169 – 171; Karl – Heinz Golzio, 2004, p. 1.

[2] Maspéro G., 1928, p. 45.

[3] Lafont P.- B., 1977, pp. 1 -11.

[4] Xem Aymonier E., 1906.

[5] Aymonier E., 1906, trang XII.

[6] Aymonier E., 1906, trang XI.

[7] Cabaton A., 1901, trang 94.

[8] Cabaton A., 1901, p. 94.

[9] Các giới tăng lữ, tu sĩ dùng để ghi chép các nghi thức nghi lễ trong tôn giáo.

[10] Xem Thành Phần, 2007.

[11] Đạo Thanh Quyến. 2003.

[12] Thành Phần, 2002, tr.21 – 23.

[13] Thập Liên Trưởng, 2000, tr. 8.

[14] Xem Thành Phần, 2007.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *